|
Cần tuyên bố ranh giới vùng đặc quyền kinh tế
Dương Danh Huy
Thứ Năm, 26 tháng 3, 2009
Gửi tới BBC từ Oxford, Anh Quốc
Bản đồ 1: Hai lô 5.2 và 5.3 nằm gần Phú Quý hơn Trường Sa và cách bờ biển đất liền dưới 200 hải lý. Dựa trên bản đồ của PetroVietnam.
Gần đây một số sự kiện liên quan tới quy chế vùng đặc quyền kinh tế đã xảy ra ở Biển Đông.
Ngày 8/3, 5 tàu của Trung Quốc cản trở hoạt động do thám, đo đạc thuỷ văn của một tàu không vũ trang thuộc hải quân Mỹ trong khu vực mà Trung Quốc cho là thuộc vùng đặc quyền kinh tế của họ.
Ngày 17/3, Trung Quốc gửi tàu Ngư Chính 311 tới Biển Đông với lý do tuần tra nghề cá và sau đó tuyên bố là sẽ tăng cường lực lượng tuần tra bằng cách dùng chiến hạm cũ hay đóng tàu tuần dương mới. Việc Trung Quốc tuần tra Biển Đông trong khi phần lớn Biển Đông còn đang trong tình trạng tranh chấp có thể xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Ngày 19/3, BP tuyên bố chính thức rút ra khỏi dự án với vốn 2 tỷ USD để thăm dò dầu khí tại hai vùng Hải Thạch (trong lô 5.2) và Mộc Tinh (trong lô 5.3) trong bồn trũng Nam Côn Sơn. Hai lô 5.2 và 5.3 nằm gần đảo Phú Quý của Việt Nam hơn Trường Sa và cách bờ biển đất liền Việt Nam dưới 200 hải lý. Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định rằng hai lô này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. BP đưa ra lý do thương mại cho việc rút ra khỏi dự án mặc dù đã đầu tư 200 triệu USD để thăm dò và đã đánh giá vùng Hải Thạch là có thể có nhiều khí đốt nhất trong bồn trũng Nam Côn Sơn. Trước đó, vào năm 2007, Trung Quốc đã dùng quyền lợi thương mại của BP tại nước này để áp lực BP rút ra khỏi dự án với Việt Nam.
Những sự kiện này làm nổi bật lên một thiếu sót pháp lý trong việc bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.
Đường cơ sở 1982 của Việt Nam. Bản đồ của Defense Mapping Agency, Mỹ.
Trong các vùng biển mà một quốc gia có thể có chủ quyền hay quyền chủ quyền, vùng đặc quyền kinh tế, từ 12 hải lý ra tới tối đa là 200 hải lý, thường là vùng đem lại nhiều quyền lợi kinh tế cho quốc gia đó nhất.
Thế nhưng Việt Nam chưa bao giờ công bố bản đồ hay phạm vi cụ thể nào cho vùng đặc quyền kinh tế của mình bên ngoài Vịnh Thái Lan và Vịnh Bắc Bộ. Trên nguyên tắc, đó là một điều bất lợi cơ bản cho việc bảo vệ quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Biển Đông. Trên thực tế, với thực trạng Trung Quốc có chủ trương và hành động cụ thể để chiếm 75% Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sự chưa công bố này lại càng gây bất lợi nghiêm trọng hơn.
Vì các đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang trong tình trạng tranh chấp, vì hiệu lực để tính vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này chưa được xác định và chưa các nước trong khu vực công nhận, vì vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sẽ nằm chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế từ lãnh thổ không bị tranh chấp của các nước khác, Việt Nam có thể tuyên bố là sẽ công bố phạm vi vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sau. Như vậy sẽ phù hợp với tinh thần của Tuyên bố 2002 của ASEAN và Trung Quốc về quy tắc ứng xử về Biển Đông.
Nhưng Việt Nam cần phải yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế từ lãnh thổ không bị tranh chấp của mình càng sớm càng tốt, thay vì chỉ tuyên bố nguyên tắc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Trong việc này, Việt Nam phải lựa chọn giữa 2 phương cách.
Phương cách thứ nhất là yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ đường cơ sở 1982 của Việt Nam.
Tuy nhiên, đường cơ sở 1982 của Việt Nam không phù hợp với UNCLOS ở một số điều quan trọng và nằm xa bờ một cách đáng kể so với một đường cơ sở phù hợp với UNCLOS. Trong vòng 2 năm từ khi Việt Nam công bố đường sơ sở 1982, Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Thái Lan phản đối đường sơ sở này.
Một số khuyết điểm của đường cơ sở 1982 của Việt Nam tương đương với một số khuyết điểm của dự luật HB 3216 của Philippines về đường cơ sở của nước này. Philippines đã bác bỏ dự luật này.
Khả năng là một vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ đường cơ sở 1982 sẽ không được nhiều nước chấp nhận, thậm chí có thể sẽ bị nhiều nước phản đối.
Nếu yêu sách của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế không được nhiều nước chấp nhận, hay bị nhiều nước phản đối, thì yêu sách đó khó có thể đóng góp cho việc bảo vệ quyền chủ quyền của nước ta.
Cách thứ hai
Phương cách thứ nhì là yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ những đường ad hoc phù hợp với các quy định của UNCLOS về đường cơ sở. Các đường ad hoc này có thể là ngấn thuỷ triều thấp của đất liền, của các đảo ven bờ, và của các đảo trong các nhóm Côn Đảo, Phú Quý, đơn giản hoá một cách phù hợp với quy chế đường cơ sở thẳng bình thường của UNCLOS.
Vùng đặc quyền kinh tế của các vùng lãnh thổ không bị tranh chấp, tính từ ngấn thủy triều thấp. Ranh giới lưỡi bò vi phạm phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia.
Phương cách này cho phép Việt Nam yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế ngay cả khi đường cơ sở 1982 chưa được chỉnh sửa, vì phạm vi đó sẽ không cách đường cơ sở 1982 hơn 200 hải lý.
Vùng đặc quyền kinh tế tính bằng phương cách này sẽ phù hợp với UNCLOS, sẽ không gây ra hay chỉ gây ra ít tranh chấp với các nước ASEAN do chồng lấn, và, quan trọng nhất, sẽ công bằng.
Như vậy, phạm vi vùng đặc quyền kinh tế đó sẽ được nhiều nước công nhận và sẽ góp phần quan trọng cho việc bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp và công bằng của nước ta. Cụ thể là Việt Nam sẽ có một ranh giới công bằng, hợp pháp và được nhiều nước chấp nhận cho vùng đặc quyền kinh tế của mình để góp phần đối trọng với những yêu sách không thể chấp nhận được của Trung Quốc dựa trên ranh giới lưỡi bò - một ranh giới mập mờ, không công bằng, không phù hợp với luật pháp và không thể chấp nhận được.
*Tác giả xin cảm ơn Lê Minh Phiếu về một số góp ý cho bài này.
Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2009/03/090326_vietnam_eastsea.shtml
| Vùng đặc quyền kinh tế hay đặc quyền quân sự? |
| 23/03/2009 |
| (TuanVietNam) - Sự kiện Mỹ - Trung đụng độ trên biển không đơn giản chỉ là chuyện nắn gân giữa hai cường quốc mà còn là do sự khác biệt cơ bản trong quan niệm về quy chế vùng đặc quyền kinh tế giữa một bên là Mỹ - một cường quốc đã thống lĩnh đại dương từ lâu, và bên kia là Trung Quốc - một cường quốc đang bắt đầu thách thức sự thống lĩnh đó. |
Ngày 08/03/2009, cách đảo Hải Nam 75 hải lý về phía Nam, 5 tàu Trung Quốc bao vây một tàu do thám không vũ trang của hải quân Mỹ, tiến tới cách tàu này 8 mét, cản đường tàu này và tìm cách phá hoại những thiết bị thuỷ âm mà tàu này đang kéo trên biển.
 |
|
Cường quốc đang lên Trung Quốc bắt đầu "thách thức" vị trí thống lĩnh của Mỹ ở ngoài khơi.
|
Vùng biển nơi sự kiện xảy ra nằm ngoài vùng lãnh hải 12 hải lý từ đảo Hải Nam của Trung Quốc, ngoài vùng 12 hải lý từ đất liền Việt Nam và từ các đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đang chiếm đóng. Tọa độ chính xác chưa được công bố nhưng theo Trung Quốc thì vùng này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.
Sau đó, Mỹ cáo buộc Trung Quốc vi phạm luật biển quốc tế. Trung Quốc cáo buộc ngược lại là Mỹ vi phạm luật quốc tế và luật Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của họ.
Sự kiện này không đơn giản chỉ là chuyện nắn gân giữa hai cường quốc mà còn là do sự khác biệt cơ bản trong quan niệm về quy chế vùng đặc quyền kinh tế giữa một bên là Mỹ - một cường quốc đã thống lĩnh đại dương từ lâu, và bên kia là Trung Quốc - một cường quốc đang bắt đầu thách thức sự thống lĩnh đó.
1 Vùng đặc quyền kinh tế theo UNCLOS
Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), trên nguyên tắc nước ven biển có quyền có 5 vùng biển sau: Nội thủy; Lãnh hải; Vùng tiếp giáp lãnh hải; Vùng đặc quyền kinh tế; và Thềm lục địa.
Xét về tính chất pháp lý, 5 vùng biển mà nước ven biển có quyền đòi hỏi theo UNCLOS có thể được chia thành 2 nhóm khác nhau:
Các vùng biển thuộc chủ quyền của nước ven biển, bao gồm:
- Nội thủy: vùng biển nằm phía bên trong đường cơ sở.
- Lãnh hải: vùng biển rộng 12 hải lý phía ngoài đường cơ sở.
Các vùng biển này có quy chế pháp lý như lãnh thổ trên đất liền, tức quốc gia ven biển có quyền thực thi chủ quyền của mình tại vùng biển này như đối với lãnh thổ đất liền. Tuy nhiên, có một điều khác với lãnh thổ trên bộ, tàu thuyền hay máy bay nước ngoài được quyền đi qua vô hại trong lãnh hải.
Các vùng biển mà nước ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán, bao gồm:
- Vùng tiếp giáp lãnh hải: vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền lãnh hải và rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở.
- Vùng đặc quyền kinh tế: vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền với lãnh hải, rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
- Thềm lục địa: bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển phía bên ngoài của lãnh hải trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Tại các vùng biển này, quốc gia ven biển được thực hiện một số quyền mang tính chất chủ quyền và chỉ có quyền tài phán trong một số lĩnh vực nhất định.
Riêng đối với vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có những quyền chủ quyền về việc khảo sát, khai thác, bảo tồn, quản lý và nghiên cứu các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như có những quyền chủ quyền về những hoạt động khác vì mục đích kinh tế. Ngoài ra, trong vùng biển này, quốc gia ven biển cũng có quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước và các quyền khác do Công ước này quy định.
Xét về mặt lịch sử, tập quán và luật pháp quốc tế trước khi UNCLOS ra đời không có quy chế về vùng đặc quyền kinh tế. Vùng biển này là sáng kiến của UNCLOS và đặt vùng này nằm giữa vùng lãnh hải và biển cả. Nó nhằm mục đích cho quốc gia ven biển được hưởng những quyền lợi về kinh tế trên những khu vực ngoài 12 hải lý mà không cần phải mở rộng chiều rộng của lãnh hải; đồng thời vẫn đảm bảo những quyền lợi phi kinh tế của những quốc gia khác ngoài vùng lãnh hải 12 hải lý của quốc gia ven biển.
Quy chế lãnh hải
Thật vậy, từ thế kỷ 18, nước Anh và một số nước trên thế giới bắt đầu công nhận một vùng lãnh hải rộng khoảng 3 hải lý thuộc chủ quyền nước ven biển, và công nhận là không nước nào có chủ quyền đối với vùng biển, gọi là biển cả, bên ngoài vùng lãnh hải này. Từ thế kỷ 19 cho tới giữa thế kỷ 20, khái niệm “lãnh hải - biển cả” này trở thành tập quán ngoại giao, ban đầu là cho các nước Âu Mỹ và sau đó là cho cộng đồng quốc tế.
Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng Tiếp giáp[1] (Công ước 1958) nới chiều rộng của lãnh hải ra thành 12 hải lý. Trong lãnh hải, nước ven biển có chủ quyền, nhưng các nước khác có quyền đi qua vô hại[2].
Theo Công ước 1958, việc bảo đảm nền hoà bình, trật tự và an ninh của nước ven biển là những mục đích của quy chế lãnh hải 12 hải lý.
Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) kế thừa tinh thần trên của Công ước 1958. Điều 19 của UNCLOS quy định cụ thể về “phương hại tới hoà bình” như sau[3]:
2. Việc đi qua của một tàu thuyền nước ngoài bị coi như phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, nếu như ở trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành một trong bất kỳ hoạt động nào sau đây:
a) Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chính quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc;
b) Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;
c) Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;
d) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;
e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;
f) Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;
g) Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;
h) Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;
i) Đánh bắt hải sản;
j) Nghiên cứu hay đo đạc;
k) Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;
l) Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua.
Quy chế biển cả
Ngược lại, khác với trong vùng lãnh hải, tinh thần đối với của biển cả là các nước trên thế giới có tự do hàng hải, hàng không và tự do sử dụng biển cả.
Tuy có quy định rằng biển cả là để cho các mục đích hoà bình và quy định rằng các nước phải tuân thủ luật quốc tế và Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, UNCLOS không cấm đo đạc hay những hoạt động quân sự như từ Điểm b đến Điểm f, Khoản 2 Điều 19 UNCLOS như đã cấm trong vùng lãnh hải. Như vậy, tinh thần tự do hoạt động quân sự trên biển cả có từ lâu đời và được UNCLOS bảo lưu.
Quy chế vùng đặc quyền kinh tế
Trong bài viết về lịch sử của quy chế vùng đặc quyền kinh tế, S.N. Nandan, Đại diện Đặc biệt của Tổng Thư ký về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc cho là mục đích của sự ra đời của quy chế vùng đặc quyền kinh tế trong UNCLOS là cho phép các nước ven biển bảo đảm quyền lợi kinh tế của mình mà không cần phải nới quy chế của lãnh hải rộng ra 200 hải lý[4].
Trong khi tinh thần của lãnh hải là bảo đảm nền hoà bình, trật tự và an ninh của nước ven biển thì tinh thần của vùng đặc quyền kinh tế là bảo đảm quyền lợi kinh tế của nước ven biển. Ngoài việc bảo đảm quyền lợi kinh tế và những quyền tài phán hạn chế, tinh thần của quy chế vùng đặc quyền kinh tế gần giống tinh thần của quy chế biển cả.
Thật vậy, trong khi Điều 19 của UNCLOS cấm đo đạc và hoạt động quân sự, bao gồm thu thập thông tin tình báo trong lãnh hải, không có một điều cấm tương tự trong biển cả hay vùng đặc quyền kinh tế.
Điều 58 của UNCLOS nói rằng trong vùng đặc quyền kinh tế các nước có tự do hàng hải, hàng không được quy định tại điều 87 dành cho biển cả.
UNCLOS có quy định rằng các hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế phải hoà bình và quy định rằng các nước phải tuân thủ luật quốc tế và Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, nhưng điều này không khác với biển cả.
Như vậy, đối với tự do hàng hải, hàng không và đối với hoạt động quân sự, tinh thần của quy chế vùng đặc quyền kinh tế gần với tinh thần của quy chế biển cả, và rất khác với tinh thần của quy chế lãnh hải.
Trên thực tế, phần lớn các nước trên thế giới công nhận là quyền hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế giống như trong biển cả, ngoại trừ hoạt động quân sự không được gây thiệt hại cho kinh tế của nước ven biển và không gây thiệt hại đáng kể cho tài nguyên[5]. Trên thế giới chỉ có vài nước, bao gồm Bangladesh, Brazil, Cape Verde, Malaysia, Pakistan, và Uruguay, tuyên bố là các nước khác phải xin phép trước khi thi hành hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển[6].
2 Hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế
Xét về khía cạnh pháp lý, câu hỏi là những hành động do thám và khảo sát thủy văn quân sự của Mỹ trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc có vi phạm UNCLOS hay không?
Dựa trên những lý do sau, có thể cho là những hành động đó không vi phạm UNCLOS:
- Tinh thần của quy chế vùng đặc quyền kinh tế như đã nêu trên.
- Điều 19 của UNCLOS cấm đo đạc và thu thập tình báo trong lãnh hải nhưng không tồn tại điều tương đương cấm những việc này trong vùng đặc quyền kinh tế hay biển cả.
- Điều 58 của UNCLOS nói rằng trong vùng đặc quyền kinh tế các nước có những tự do hàng hải, hàng không của điều 87 trong quy chế biển cả.
- Những quy định của UNCLOS về sử dụng biển một cách hoà bình trong vùng đặc quyền kinh tế không khác với trong biển cả.
- Tập quán quốc tế là công nhận quyền đo đạc, do thám và hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế.
Ngược lại, Trung Quốc cho là những hành động đó vi phạm UNCLOS vì những lý do sau.
Trung Quốc cho rằng khảo sát thuỷ văn, đo đạc hay do thám là những hành động để “sửa soạn chiến trường”, vì vậy là một sự đe doạ cho Trung Quốc, và vì vậy vi phạm luật quốc tế, cụ thể là Điều 2, đoạn 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc[7]. Trong quan điểm này, Trung Quốc dùng từ “đe doạ” với nghĩa một nguy hiểm tiềm tàng, khác với ý nghĩa của thuật ngữ “đe dọa dùng vũ lực” trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc có nghĩa như doạ nạt, cảnh cáo và với ý là có thể hành động tức thời. Vì vậy lập luận này của Trung Quốc là không đúng.
Trung Quốc cũng cho rằng những hành động đó xâm phạm an ninh của Trung Quốc, vì vậy không “tính đến các quyền và các nghĩa vụ của nước ven biển” như điều 58 của UNCLOS đòi hỏi[8]. Tuy nhiên, quy định của UNCLOS về an ninh trong vùng đặc quyền kinh tế không khác với trong biển cả. Ngoài việc không cản trở các hoạt động kinh tế và không gây thiệt hại đáng kể cho tài nguyên, không có quan niệm chung thế nào là “tính đến các quyền và các nghĩa vụ của nước ven biển” trong vùng đặc quyền kinh tế[9]. Vì vậy quan điểm này của Trung Quốc không phải là quan điểm cụ thể tồn tại trong UNCLOS.
Lý do thứ ba của Trung Quốc là đo đạc, khảo sát thuỷ văn và do thám là nghiên cứu khoa học biển cho nên UNCLOS đòi hỏi là phải xin phép Trung Quốc, và những hành động đó không phải là những hành động hoà bình cho nên UNCLOS không đòi hỏi là Trung Quốc phải cho phép. Ngược lại, Mỹ cho là những hành động đó không phải là nghiên cứu khoa học biển mà là đo đạc và những hoạt động quân sự mà UNCLOS không cấm trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển.
3 Biến vùng đặc quyền kinh tế thành vùng đặc quyền quân sự
Ngày nay, nỗ lực lớn nhất để thay đổi tập quán quốc tế về vùng đặc quyền kinh tế là từ Trung Quốc.
Năm 2002, Trung Quốc ban hành một đạo luật dựa trên luật 1998 của nước này về vùng đặc quyền kinh tế, cấm các nước khác khảo sát, đo đạc trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.
Mục đích của Trung Quốc là biến vùng đặc quyền kinh tế của nước này thành vùng đặc quyền quân sự. Trong tình hình hải quân Trung Quốc chưa mạnh bằng hải quân Mỹ nhưng mạnh hơn hải quân của các nước Á Đông, có thể ngoại trừ hải quân Nhật, vùng đặc quyền quân sự đó sẽ thuận tiện cho chiến lược biển của Trung Quốc nói chung và chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông nói riêng.
Có vẻ như là Trung Quốc muốn sử dụng những quy định trong UNCLOS về tài nguyên và kinh tế cho mục đích ngăn cấm những hoạt động đi lại, do thám có tính quân sự của các nước khác trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này.
Khác với Trung Quốc, nhu cầu của Mỹ từ xưa tới nay luôn luôn là tự do hàng hải trên biển. Một trong những nhiệm vụ của hải quân Mỹ là bảo đảm tự do hàng hải cho Mỹ, cho đồng minh của Mỹ và cho những hoạt động kinh tế quan trọng với Mỹ một cách trực tiếp hay gián tiếp. Mặt kia của vấn đề, tự do hàng hải là điều cần thiết cho hoạt động của hải quân Mỹ. Vì vậy, Mỹ luôn luôn chống những chính sách của những nước khác có khả năng làm giảm tự do hàng hải.
4 Lựa chọn cho Việt Nam về hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế
Câu hỏi cho Việt Nam là nên ủng hộ tập quán quốc tế là các nước trên thế giới có quyền hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển, hay ủng hộ quan điểm của Trung Quốc và một số ít các nước khác?
Hiện nay dù Việt Nam có quyền thì cũng không có nhiều khả năng hay nhu cầu để hoạt động quân sự bên trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác, nhất là bên ngoài Biển Đông.
Ngược lại, nhiều nước trên thế giới có khả năng hoạt động quân sự bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Thoạt nhìn thì có vẻ như là quan điểm như của Trung Quốc sẽ cản trở những nước này hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và như vậy tốt cho quyền lợi của Việt Nam.
Tuy nhiên, trên thực tế thì không hẳn như vậy vì những lý do sau.
Thứ nhất, giả sử Việt Nam có ủng hộ quan điểm không cho các nước khác quyền hoạt động quân sự, khảo sát, đo đạc, do thám trong vùng đặc quyền kinh tế của mình đi nữa thì trên thực tế điều đó cũng không đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam. Lý do là ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc sẽ không công nhận vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà sẽ cho rằng phần lớn vùng biển đó là của Trung Quốc, và Trung Quốc vẫn sẽ có hoạt động quân sự trong phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Như vậy, ủng hộ quan điểm của Trung Quốc sẽ không có nhiều ích lợi cho Việt Nam mà có ích cho Trung Quốc nhiều hơn. Giả sử Trung Quốc công nhận vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam thì Việt Nam còn có thể ủng hộ quan điểm của Trung Quốc về quy chế vùng đặc quyền kinh tế.
Thứ nhì, nếu Trung Quốc thành công trong việc biến vùng đặc quyền kinh tế của họ thành vùng đặc quyền quân sự của họ thì điều đó sẽ tăng khả năng cho việc họ đòi hỏi là vùng biển bên trong ranh giới lưỡi bò cũng là vùng đặc quyền quân sự của họ, và tăng khả năng họ thành công trong đòi hỏi đó.
Thứ ba, không có nước nào bên ngoài Biển Đông (mà chỉ có những nước bao quanh Biển Đông) đe doạ trực tiếp và hiện hữu cho sự vẹn toàn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam. Ngay cả những nước Đông Nam Á trong tranh chấp Biển Đông cũng không có yêu sách trong vùng đặc quyền kinh tế tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam. Vì vậy, nếu những nước này có hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế này mà không gây thiệt hại cho kinh tế và tài nguyên, như UNCLOS đòi hỏi, thì điều đó không là thiệt hại cho Việt Nam.
Vì những lý do trên, Việt Nam tuyệt đối không nên ủng hộ quan điểm của Trung Quốc mà nên ủng hộ việc duy trì tập quán quốc tế. Tuy nhiên, với thực trạng quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam cần phải ủng hộ việc duy trì tập quán quốc tế một cách khéo léo để tăng tối đa lợi ích cho mình và giảm tối thiểu những hệ quả có hại cho mình.
5 Lựa chọn cho Việt Nam về phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của mình
Dù nước ven biển không có độc quyền quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế, vùng này vẫn hết sức quan trọng.
Thế nhưng Việt Nam chưa bao giờ công bố bản đồ hay phạm vi cụ thể nào cho vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trên nguyên tắc, đó là một điều bất lợi cơ bản cho việc bảo vệ quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trên thực tế, với thực trạng Trung Quốc có chủ trương và hành động cụ thể để chiếm 75- 80% diện tích trên Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sự chưa công bố này lại càng gây bất lợi nghiêm trọng hơn.
Vì các đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang trong tình trạng tranh chấp, vì hiệu lực để tính vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này chưa được xác định và chưa được các nước trong khu vực công nhận, vì vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sẽ nằm chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế từ lãnh thổ không bị tranh chấp của các nước khác, Việt Nam có thể tuyên bố là sẽ công bố phạm vi vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sau. Như vậy sẽ phù hợp với tinh thần của Tuyên bố 2002 của ASEAN và Trung Quốc về quy tắc ứng xử về Biển Đông.
Nhưng Việt Nam cần phải yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế từ lãnh thổ không bị tranh chấp của mình càng sớm càng tốt. Trong việc này, Việt Nam phải lựa chọn giữa 2 phương cách.
Phương cách thứ nhất là yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ đường cơ sở 1982 của Việt Nam.
Tuy nhiên, đường cơ sở 1982 của Việt Nam không phù hợp với UNCLOS ở một số điều quan trọng và nằm xa bờ một cách đáng kể so với một đường cơ sở phù hợp với UNCLOS. Trong vòng 2 năm từ khi Việt Nam công bố đường sơ sở 1982, Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Thái Lan phản đối đường sơ sở này[10].
Một số khuyết điểm của đường cơ sở 1982 của Việt Nam tương đương với một số khuyết điểm của dự luật HB 3216 của Philippines về đường cơ sở của nước này[11]. Philippines đã bác bỏ dự luật này.
Khả năng là một vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ đường cơ sở 1982 sẽ không được nhiều nước chấp nhận, thậm chí có thể sẽ bị nhiều nước phản đối.
Nếu yêu sách của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế không được nhiều nước chấp nhận, hay bị nhiều nước phản đối, thì yêu sách đó khó có thể đóng góp cho việc bảo vệ quyền chủ quyền của nước ta.
 |
|
Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1: Đường cơ sở 1982 của Việt Nam.
(Click vào bản đồ để xem hình lớn hơn)
|
Phương cách thứ nhì là yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ những đường ad hoc (những đường biên trong sự việc này) phù hợp với các quy định của UNCLOS về đường cơ sở. Các đường ad hoc (đường biên trong sự việc) này có thể là ngấn thuỷ triều thấp của đất liền, của các đảo ven bờ, và của các đảo trong các nhóm Côn Đảo, Phú Quý, đơn giản hoá một cách phù hợp với quy chế đường cơ sở thẳng bình thường của UNCLOS[12]. Phương cách này cho phép Việt Nam yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế ngay cả khi đường cơ sở 1982 chưa được chỉnh sửa, vì phạm vi đó sẽ không cách đường cơ sở 1982 hơn 200 hải lý.
 |
|
Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 2: Vùng đặc quyền kinh tế của các vùng lãnh thổ không bị tranh chấp, tính từ ngấn thủy triều thấp. Ranh giới lưỡi bò xân phạm phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia.
|
Vùng đặc quyền kinh tế tính bằng phương cách này sẽ phù hợp với UNCLOS, sẽ không gây ra hay chỉ gây ra ít tranh chấp với các nước ASEAN do chồng lấn, và, quan trọng nhất, sẽ công bằng.
Như vậy, phạm vi vùng đặc quyền kinh tế đó sẽ được nhiều nước công nhận và sẽ góp phần quan trọng cho việc bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp và công bằng của nước ta. Cụ thể là Việt Nam sẽ có một ranh giới công bằng, hợp pháp và được nhiều nước chấp nhận cho vùng đặc quyền kinh tế của mình để góp phần đối trọng với những yêu sách không thể chấp nhận được của Trung Quốc dựa trên ranh giới lưỡi bò - một ranh giới mập mờ, không công bằng, không phù hợp với luật pháp và không thể chấp nhận được.
Các tác giả xin cảm ơn Hoàng Việt về một số góp ý
- Dương Danh Huy, Lê Minh Phiếu, Phạm Thu Xuân
(Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
[2] Công ước về lãnh hải 1958, Điều 14
[3] UNCLOS, Điều 21. Để đọc toàn văn Công ước, này, vui lòng click tại đây http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6032/index.aspx
[4] The Exclusive Economic Zone: A historical perspective, S.N. Nandan, Under Secretary-General, Special Representative of the Secretary-General for the Law of the Sea, FAO Corporate Document Repository, http://www.fao.org/docrep/s5280T/s5280t0p.htm
[5] Military and intelligence gathering activities in the EEZ: definition of key terms, Moritaka Hayashi, School of Law, Waseda University, Japan, 2004, http://www.southchinasea.org/docs/ScienceDirect%20-%20Marine%20Policy%20%20Military%20and%20intelligence%20gat.htm
[6] Military and intelligence gathering activities in the EEZ
[7] Military and intelligence gathering activities in the EEZ
[8] Military and intelligence gathering activities in the EEZ
[9] Military and intelligence gathering activities in the EEZ
[10] Straight baselines of Vietnam, Johan Henrik Nossum, Dissertations & Theses Nọ 12/2000, Department of Public and International Law, University of Oslo, 2000
[11] http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//6082/index.aspx
[12] UNCLOS, Điều 7
Nguồn: http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6459/index.aspx
| Tranh chấp Biển Đông và vai trò của Liên hiệp quốc |
| 20/03/2009 |
| (TuanVietNam) - Với Việt Nam, quốc tế hoá tranh chấp - mà một trong những cách quan trọng là đưa ra LHQ - là cần thiết để đương đầu với chiến lược và chủ trương của Trung Quốc. Nó cũng vận động được sự tham gia các nước muốn bảo vệ quyền lợi của họ trước đe doạ từ ranh giới lưỡi bò - vốn cũng là một đe dọa rất lớn đối với Việt Nam. |
Ngày 10/3/2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9522 về đường cơ sở - một ranh giới biển có ý nghĩa gần như biên giới trên bộ [1]. Luật này không đưa Trường Sa của Việt Nam vào bên trong đường cơ sở, nhưng đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines.
Trước đó, vào ngày 18/2/2009, sau khi Quốc hội Philippines phê chuẩn luật này, Trung Quốc đã phản đối Philippines, đồng thời khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo này. Ngày 19/02/2009, Việt Nam phản đối Philippines, tái khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam về cách giải quyết tranh chấp. Đáp lại phản đối từ Trung Quốc và Việt Nam, Philippines đề nghị đưa tranh chấp ra Liên hiệp quốc (LHQ).
Trung Quốc luôn luôn phản đối việc quốc tế hoá và chỉ chấp nhận đàm phán song phương cho các tranh chấp trên Biển Đông. Việc áp dụng đàm phán song phương cho các tranh chấp đa phương là một điều bất hợp lý, khó mang lại sự công bằng cho các bên.
Rõ ràng, mục đích của đòi hỏi đàm phán song phương là chiến lược bẻ đũa từng chiếc, và mục đích của đòi hỏi không quốc tế hoá tranh chấp là đối phó với các nước yếu hơn. Thêm nữa, yêu sách của Trung Quốc về ranh giới lưỡi bò ảnh hưởng quyền lợi của tất cả các nước trên thế giới, nên quốc tế hoá tranh chấp là điều bất lợi cho Trung Quốc.
Năm 1932, khi Pháp đề nghị đưa tranh chấp Hoàng Sa ra Toà án Quốc tế, Trung Quốc đã từ chối. Khi Trung Quốc chiếm một số đảo Trường Sa của Việt Nam vào năm 1988 và Việt Nam cố gắng đưa tranh chấp ra Hội đồng Bảo an, Trung Quốc đã dùng vị trí thành viên thường trực để cản trở mọi sáng kiến của Hội đồng[2].
Đối với Việt Nam, quốc tế hoá tranh chấp -mà một trong những cách quan trọng là đưa ra LHQ - là cần thiết để đương đầu với chiến lược và chủ trương của Trung Quốc. Nó cũng vận động được sự tham gia các nước muốn bảo vệ quyền lợi của họ trước đe doạ từ ranh giới lưỡi bò – vốn cũng là một đe dọa rất lớn đối với Việt Nam.
Đề nghị của Philippines về việc đưa tranh chấp ra LHQ là một cơ hội tốt cho Việt Nam nhằm quốc tế hoá tranh chấp. Xác suất việc Việt Nam chấp nhận đề nghị của Philippines “làm tổn hại quan hệ Việt-Trung” sẽ thấp hơn nếu như Việt Nam đề nghị điều này. Do vậy, Việt Nam nên chấp nhận đề nghị của Philippines[3].
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những cơ chế mà LHQ có thể can thiệp, và sau đó là những nguyên tắc mà Việt Nam và các nước ASEAN cần hướng đến và cần các thiết chế của LHQ hỗ trợ.
1. Các cơ chế của LHQ liên quan đến tranh chấp
Đại hội đồng LHQ
Các nước trong tranh chấp có thể đưa tranh chấp ra Đại hội đồng LHQ để thảo luận. Tuy nhiên, phần lớn các nước trên thế giới đều trung lập về vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa nên Đại hội đồng LHQ khó có thể ra một nghị quyết có lợi cho chủ quyền Việt Nam. Thêm vào đó, Đại hội đồng LHQ không có thẩm quyền để phân xử tranh chấp lãnh thổ - chỉ có cơ quan xét xử của LHQ, tức Toà án Công lý Quốc tế, mới có thẩm quyền này.
Vì thảo luận trước Đại hội đồng LHQ không có khả năng giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam và các nước ASEAN nên dùng thảo luận này để tranh thủ sự ủng hộ của thế giới cho những mục tiêu giới hạn hơn nhưng cần thiết cho mình.
Một uỷ ban ad hoc (vụ việc) về tranh chấp Biển Đông
Việt Nam và các nước ASEAN nên yêu cầu LHQ thành lập một ủy ban ad hoc về tranh chấp Biển Đông. Trước tiên, Uỷ ban này có thể giám sát tình hình, điều phối các nước liên quan để tiến hành đàm phán nhằm giải quyết tranh chấp một cách công bằng và báo cáo với LHQ một cách trung lập. Hoạt động của Uỷ ban này có thể được triển khai dưới sự chấp nhận của các nước trong tranh chấp.
Toà án Công lý Quốc tế
Hiện nay, tranh chấp trên Biển Đông rất phức tạp, liên quan đến rất nhiều nước:
· Tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc, Đài Loan.
· Tranh chấp chủ quyền toàn bộ hay một phần Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei.
· Tranh chấp các vùng biển giữa Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia.
Toà án Công lý Quốc tế (International Court of Justice - IJC) là cơ quan duy nhất của LHQ có thẩm quyền phán quyết về tranh chấp lãnh thổ. Điều kiện cần thiết để Tòa có thể giải quyết tranh chấp là tất cả các nước trong tranh chấp đồng ý đưa vụ việc ra Tòa giải quyết. Các nước liên quan đến tranh chấp Biển Đông chưa cùng đồng ý điều này.
Trung Quốc đã dù vũ lực để chiếm và đang chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa, một phần Trường Sa và dùng sức mạnh cương và nhu để củng cố cái gọi là chủ quyền của họ đối với khu vực tranh chấp này. Nếu để tình trạng này càng kéo dài thì càng bất lợi cho Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam phải thúc đẩy nghiên cứu về việc đưa tranh chấp ra Toà.
Ngoài việc phân xử tranh chấp, một quốc gia có thể yêu cầu Toà ra một ý kiến tư vấn (Advisory Opinion) mà không cần các nước khác trong tranh chấp đồng ý việc giải quyết này của Tòa. Ý kiến tư vấn của Toà không có tính ràng buộc nhưng là một tiếng nói mạnh mẽ. Việt Nam có thể dùng phương tiện này để góp phần bảo vệ chủ quyền của mình, đặc biệt là trong những lĩnh vực mà chúng ta có nhiều tin tưởng là Toà sẽ ra ý kiến tư vấn có lợi cho Việt Nam.
Cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS
Trong tranh chấp trên Biển Đông, “đường lưỡi bò” do Trung Quốc đòi hỏi không liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa. Nó vi phạm trầm trọng các quy định của UNCLOS về phân chia các vùng biển cho các nước. UNCLOS đã quy định nhiều cơ chế để giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thực thi Công ước như: thông qua hòa giải, thông qua Tòa án Quốc tế về Luật Biển (International Tribunal on the Law of the Sea), Trọng tài, Trọng tài đặc biệt (theo quy định cụ thể của UNCLOS, đặc biệt là phần XV, Phụ lục V, VI, VII, VIII). Vì vậy, song song với việc đưa tranh chấp ra Tòa án Công lý Quốc tế, Việt Nam cũng nên nghiên cứu và xem xét việc đưa tranh chấp phân định vùng biển ra các cơ quan này.
2. Các mục tiêu cho Việt Nam và ASEAN
Bằng việc vận dụng các cơ chế nêu trên, Việt Nam cần hướng đến những giải pháp khả thi và có lợi cho Việt Nam và ASEAN như trình bày dưới đây.
Cấm các biện pháp dùng vũ lực
Hiện nay, quan hệ quốc tế đã bước sang kỷ nguyên văn minh, không còn thời mà nước lớn có thể dùng vũ lực để đánh nước nhỏ bất cứ khi nào họ muốn. Luật quốc tế hiện nay đã có nhiều văn bản quy định về việc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực. Việt Nam cần vận dụng các quy định này để bảo vệ cho mình.
Hơn nữa, thông qua các thiết chế của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam cần vận động sự quan tâm của dư luận, ủng hộ của quốc tế về vấn đề Biển Đông. Điều này sẽ tăng thêm áp lực cho Trung Quốc và từ đó giảm đi sự tùy tiện của họ trong hành động. Ngoài ra, các vấn đề gây căng thẳng hay các đụng độ trên Biển Đông (nếu có) cũng cần được công khai để tranh thủ sự tác động của công luận.
Yêu cầu tuân thủ UNCLOS
Vì ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc đòi hỏi 75% Biển Đông, vi phạm UNCLOS nghiêm trọng, nên nếu tìm được một giải pháp buộc các nước liên quan phải tuân thủ UNCLOS thì điều đó sẽ góp phần chống lại việc Trung Quốc thực hiện ranh giới đó. Việc đạt được giải pháp này lại rất khả thi vì UNCLOS là một Công ước của LHQ mà 157 nước đã phê chuẩn hay ký kết, bao gồm tất cả các nước trong tranh chấp trên Biển Đông.
Làm sáng tỏ và phản đối ranh giới lưỡi bò
Từ khi Trung Hoa Dân Quốc công bố ranh giới lưỡi bò vào năm 1947 cho tới nay, Trung Hoa Dân Quốc và Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa chưa bao giờ chính thức nói ý nghĩa của ranh giới đó là gì: Nó là ranh giới cho chủ quyền đối với các đảo hay cho cả chủ quyền đối với các vùng nước? Nếu cho cả chủ quyền đối với các vùng nước thì với tư cách gì: nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, biển lịch sử?
Tuy Trung Quốc đã có nhiều hành động thực tế bên trong ranh giới lưỡi bò, thí dụ như: khảo sát vùng James Shoal sát bờ biển Malaysia (năm 1983), ký hợp đồng khảo sát vùng Tư Chính của Việt Nam với Crestone (năm 1992), quy định là tất cả các bản đồ của Trung Quốc phải vẽ ranh giới lưỡi bò (năm 2006), cản trở hợp đồng của BP với Việt Nam trong vùng Nam Côn Sơn (năm 2007), cản trở hợp đồng của Exxon Mobil với Việt Nam (năm 2008), nhưng Trung Quốc chưa bao giờ chính thức nói ranh giới đó là gì.
Một số học giả Trung Quốc nói rằng ranh giới lưỡi bò là ranh giới biển lịch sử của Trung Quốc, Trung Quốc chưa bao giờ chính thức công nhận quan điểm đó. Bên cạnh đó biển lịch sử là một khái niệm không có trong UNCLOS – một Công ước mà TQ đã phê chuẩn.
Trung Quốc có đề cập tới cái gọi là chủ quyền lịch sử của họ ở Biển Đông hay cái gọi là chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Trường Sa và những vùng biển lân cận, Trung Quốc chưa bao giờ chính thức nói là phạm vi của những vùng biển đó là ranh giới lưỡi bò.
Chiến lược của Trung Quốc có thể là không chính thức tuyên bố ý nghĩa của ranh giới lưỡi bò để tránh sự phản đối, song song đó họ vẫn thực hiện những tuyên bố và hành động để củng cố cái gọi là chủ quyền của họ bên trong ranh giới này, để rồi sau này họ sẽ diễn dịch rằng việc không có nước nào phản đối ranh giới lưỡi bò có nghĩa là sự công nhận.
Vì vậy, Việt Nam và ASEAN cần tạo áp lực để Trung Quốc nói rõ về ranh giới lưỡi bò để tạo điều kiện cho các nước trên thế giới có phản ứng thích hợp. Đưa tranh chấp ra LHQ là cơ hội tốt để gây áp lực cho Trung Quốc làm điều này.
Xác định phạm vi vùng biển thuộc về các đảo bị tranh chấp
Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough có hai yếu tố:
i. Tranh chấp chủ quyền đối với đảo.
ii. Tranh chấp do các vùng biển thuộc về các đảo này nằm chồng lấn lên vùng biển thuộc về các nước chung quanh các đảo.
Nguyên tắc thông thường là phải giải quyết xong tranh chấp (i) mới giải quyết được tranh chấp (ii). Tuy vậy, trên thực tế:
· Có ít hy vọng hay có nhiều khó khăn khi thông qua các cơ chế của LHQ để giải quyết được tranh chấp (i).
· Nếu có nước nào lợi dụng tranh chấp đảo để có yêu sách quá đáng đối với biển thì điều đó có thể đe doạ Việt Nam nhiều hơn cả tranh chấp (i). Trong khi đó, vùng biển thuộc về các đảo bị tranh chấp chưa bao giờ được xác định và đó là điều kiện tốt cho sự lợi dụng này.
· Việt Nam và Philippines hay bất cứ nước nào trong tranh chấp đều có thể yêu cầu Toà án Công lý Quốc tế ban một Ý kiến Tư vấn về phạm vi của các vùng biển thuộc về các đảo này.
· Toà án Công lý Quốc tế đã phán quyết rất nhiều lần về phạm vi của các vùng biển thuộc về đảo. Điều này có nghĩa là Toà có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này và rất có thể Toà sẽ phán quyết một cách phù hợp với những phán quyết trước đây, vốn được cho là chuẩn mực của sự công bằng trong việc phân định biển. Do đó có ít rủi ro là phán quyết của Toà sẽ không công bằng.
Phán quyết của Toà về phạm vi của các vùng biển thuộc về các đảo bị tranh chấp sẽ xác định vùng biển bị tranh chấp. Đó là bước tiên quyết để có giải pháp. Ngay cả khi chưa có giải pháp, việc xác định vùng biển đang trong vòng tranh chấp sẽ không cho phép các nước khác lợi dụng hiện trạng mà tranh giành những vùng biển của Việt Nam không thuộc về các đảo này.
Các đảo bị tranh chấp đều rất nhỏ, thí dụ như Phú Lâm, đảo lớn nhất ở Hoàng Sa, có diện tích khoảng 1,5 km² và Ba Bình, đảo lớn nhất ở Trường Sa, có diện tích gần 0,5 km². Khả năng cao là Toà sẽ cho mỗi đảo được đề cập tới cao hơn mức thuỷ triều cao lãnh hải 12 hải lý và một vùng đặc quyền kinh tế ra ngoài lãnh hải một vài hải lý là tối đa. Quan điểm này dựa trên các phán quyết trước đây của Toà và trên tập quán ngoại giao, thí dụ như sau.
Trong phiên toà phân xử ranh giới thềm lục địa giữa Anh và Pháp năm 1977, Toà phán quyết là về phía Tây và Bắc các đảo Channel Islands của Anh, thềm lục địa thuộc về các đảo này nằm trong những đường cung từ điểm 1 tới 12 cách đảo Guernsey (diện tích 78 km²) của Anh và các đảo trong cùng nhóm 12 hải lý[4].
 |
|
Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1: Ranh giới thềm lục địa Anh-Pháp[9]. Các đảo Channel Islands của Anh chỉ được Tòa cho lãnh hải và thềm lục địa ra tới 12 hải lý. Bên ngoài 12 hải lý, cho tới đường trung tuyến A-H, là thềm lục địa của Pháp.
|
Trong việc phân định thềm lục địa giữa Ý và Tunisia, hai nước này đồng ý là các đảo nhỏ của Ý, Pantelleria (83 km²), Linosa (5,4 km²), Lampedusa (21 km²), Lampione (1,2 km²), chỉ được thềm lục địa từ 12 đến 13 hải lý.
 |
|
Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 2: Ranh giới thềm lục địa Ý-Tunisia. Các đảo nhỏ của Ý, diện tích từ 1,2 tới 83 km², chỉ được 12 hay 13 hải lý.
|
Nếu Toà khuyến nghị là mỗi đảo trong quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough được hưởng vùng đặc quyền kinh tế phù hợp với các án lệ của Toà và với tập quán ngoại giao thì điều đó sẽ cản trở việc Trung Quốc tranh chấp vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính và những vùng biển tương tự của Việt Nam[6].
3. Những giải pháp lâm thời
Trong khi chờ đợi những giải quyết thông qua các cơ chế của LHQ, và vì rằng nếu được giải quyết bằng các cơ chế đó thì cũng sẽ khó có một giải pháp triệt để, Việt Nam và các nước ASEAN nên dùng cơ hội có trước LHQ để xây dựng sự ủng hộ cho một giải pháp lâm thời để bảo vệ phần lớn chủ quyền, an ninh của mình. Giải pháp này có thể có các nguyên tắc sau:
a. Không nước nào được khai thác hay khảo sát vùng biển thuộc về các đảo đang bị tranh chấp. Vùng biển này có thể được xác định bằng một Ý kiến Tư vấn của Toà. Bằng không, các nước trong tranh chấp có thể thoả thuận một phạm vi giữa 12 hải lý và 24 hải lý cho mỗi đảo. Mục đích của điều này là bảo lưu quyền lợi của nước có chủ quyền đối với đảo trong hiện trạng tranh chấp chưa được giải quyết.
b. Ngoại trừ các vùng biển trong điểm (a) nêu trên, mỗi nước trong tranh chấp có đặc quyền khai thác các vùng biển và thềm lục địa cách lãnh thổ không bị tranh chấp của mình dưới 200 hải lý. Các nước khác không được phản đối việc khai thác này. Mục đích của điều này là bảo đảm quyền mỗi nước có đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý theo UNCLOS.
c. Ngoại trừ các vùng biển trong điểm (a) nêu trên, mỗi nước trong tranh chấp có đặc quyền khai thác thềm lục địa bên trong phạm vi được Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa công nhận. Các nước khác không được phản đối việc khai thác này. Mục đích của điều này là bảo đảm quyền mỗi nước có đối với thềm lục địa theo UNCLOS.
d. Trong trường hợp các vùng biển trong điểm (b) và (c) của các nước khác nhau nằm chồng lấn lên nhau, vùng chồng lấn phải được phân định một cách công bằng.
e. Khi nào vấn đề chủ quyền đối với đảo được giải quyết thì vùng biển trong điểm (a) của mỗi đảo sẽ thuộc về nước được cho là có chủ quyền đối với đảo đó.
 |
|
Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 3: Giải pháp lâm thời cho tranh chấp Biển Đông so với ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc.
|
Bản đồ 3 minh hoạ giải pháp lâm thời này với giả thuyết là mỗi đảo bị tranh chấp trên mức thuỷ triều cao có lãnh hải 12 hải lý nhưng không có vùng đặc quyền kinh tế ra xa hơn lãnh hải. Trên thực tế, các án lệ của Toà và tập quán ngoại giao cho thấy mỗi đảo này chỉ có thể có các vùng biển không hơn trong giả thuyết này nhiều.
Bản đồ này cho thấy chủ quyền của mỗi nước đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý sẽ được bảo đảm. Chủ quyền của mỗi nước đối với thềm lục địa được Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa công nhận cũng sẽ được bảo đảm. Những điều này có nghĩa phần lớn quyền lợi theo UNCLOS của các nước trong tranh chấp sẽ được bảo đảm ngay cả khi chưa giải quyết đựơc tranh chấp chủ quyền đối với các đảo.
Các chấm xanh lá cây là vùng biển thuộc về các đảo đang bị tranh chấp. Khi nào vấn đề chủ quyền đối với đảo nào được giải quyết thì vùng biển của đảo đó sẽ thuộc về nước được cho là có chủ quyền đối với đảo đó.
3. Kết luận
Đề nghị đưa tranh chấp ra LHQ của Philippines vừa là một đề nghị hợp lý và là một cơ hội tốt mà Việt Nam không nên bỏ qua.
Tuy nhiên, cần xác định khả năng của các cơ chế khác nhau của LHQ trong việc giải quyết tranh chấp một cách toàn diện. Sau khi xác định khả năng và giới hạn của những cơ chế khác nhau, Việt Nam nên tận dụng việc đưa vấn đề ra LHQ để thực hiện những mục đích có thể là giới hạn hay lâm thời, nhưng rất cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông. Cho dù vì lý do nào đó tranh chấp Biển Đông không được đưa ra LHQ thì Việt Nam cũng nên cố gắng thực hiện những mục đích này.
Song song với việc thực hiện những mục đích này, Việt Nam vẫn phải tiếp tục cố gắng bảo vệ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông một cách triệt để.
- Dương Danh Huy - Phạm Thu Xuân - Nguyễn Thái Linh - Lê Vĩnh Trương - Lê Minh Phiếu (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
[1]http://www.philstar.com/Article.aspx?articleId=447737&publicationSubCategoryId=63
[2] Sovereignty Over the Paracel and Spratly Islands, trang 139, Monique Chemilllier-Gendreau, Martinus Nijhoff Publishers, 2000, ISBN 9041113819, 9789041113818. Có thể đọc tại http://books.google.co.uk/books?id=58q1SMZbVG0
[3] Nếu Việt Nam không muốn đưa tranh chấp ra LHQ thì chỉ nên im lặng, không nên bác bỏ đề nghị của Philippines. Việc bác bỏ, nếu có, sẽ bất lợi cho việc tuyên truyền. Việt Nam không nên đứng ra gánh vác sự bất lợi này thay cho Trung Quốc.
[4] Maritime Boundary, trang 148, S.P. Jagota, Martinus Nijhoff Publishers, 1985, ISBN 902473133X, 9789024731336. Có thể đọc tại http://books.google.co.uk/books?id=8h0iQSQqzoIC
[5] The Regime of Islands in International Law, trang 443, Hiran Wasantha Jaywardene, Martinus Nijhoff Publishers, 1990, ISBN 0792301307, 9780792301301. Có thể đọc tại http://books.google.co.uk/books?id=JfwMefe2uAgC
[6] http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5522/index.aspx
|
Nguồn: http://tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/6378/index.aspx
Đăng ký thềm lục địa mở rộng trước 13/05/2009
11/03/2009
| TuanVietNam) - Việt Nam phê chuẩn UNCLOS ngày 25/07/1994 cho nên trên nguyên tắc Việt Nam phải đăng ký yêu sách về thềm lục địa mở rộng với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa trước ngày 13/05/2009. Nếu lỡ thời hạn này, Việt Nam sẽ không có quyền khai thác thềm lục địa mở rộng của mình. |
Theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982 [1] (UNCLOS) mỗi nước ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý [2] tính từ đường cơ sở[3] của nước đó. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có đặc quyền khai thác kinh tế đối với biển và đáy biển[4].
UNCLOS cũng quy định là nếu thềm lục địa[5] của nước ven biển kéo dài ra xa hơn 200 hải lý thì nước đó có đặc quyền khai thác tài nguyên dưới đáy biển trong một vùng bên ngoài 200 hải lý[6] gọi là thềm lục địa mở rộng (Extended Continental Shelf - ECS).
 |
| Hình SEQ Hình \* ARABIC 1: Các vùng biển được quy định trong UNCLOS. Baselines là đường cơ sở. Territorial Sea là lãnh hải. Contiguous Zone là vùng tiếp giáp. Exclusive Economic Zone là vùng đặc quyền kinh tế. High Seas là biển cả hay biển quốc tế[7]. (Click vào bản đồ để xem hình lớn hơn) |
Quy định về thềm lục địa mở rộng
Theo UNCLOS, thềm lục địa mở rộng của nước ven biển không được ra xa hơn bất cứ “đường công thức” hay “đường giới hạn” quy định như sau:
-
Đường công thức: Nước ven biển có thể kết hợp 2 đường sau để vạch đường công thức sao cho có lợi nhất cho mình:
-
Đường Hedberg: Đường nối các điểm cách chân dốc thềm lục địa không quá 60 hải lý[8].
-
Đường Gardiner: Đường nối các điểm nơi đá trầm tích dày hơn 1% khoảng cách tới chân dốc thềm lục địa[9].
-
Đường giới hạn: Nước ven biển có thể kết hợp 2 đường sau để vạch đường giới hạn sao cho có lợi nhất cho mình:
-
Đường cách đường cơ sở 350 hải lý[10].
-
Đường cách đường đẳng sâu 2500 m (là đường nối liền các điểm có độ sâu 2500 m) 100 hải lý[11].
 |
|
Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1:
Minh hoạ quy định về ranh giới thềm lục địa mở rộng[12].
|
UNCLOS quy định là nước ven biển phải đăng ký yêu sách về phạm vi của thềm lục địa mở rộng với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (Commission on the Limits of the Continental Shelf[13] - CLCS) trong vòng 10 năm kể từ khi UNCLOS bắt đầu có hiệu lực với nước đó[14] hay từ khi Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa ban hành hướng dẫn khoa học kỹ thuật về ranh giới thềm lục địa, ngày 13/05/1999[15]. Nếu nước ven biển không đăng ký kịp thời hạn thì sẽ không có quyền khai thác vùng thềm lục địa mở rộng đó.
Sau khi nhận được hồ sơ của nước ven biển, CLCS sẽ khuyến nghị về ranh giới thềm lục địa mở rộng của nước này. Nếu nước này vạch ranh giới theo khuyến nghị đó thì ranh giới đó sẽ có tính chất ràng buộc vĩnh viễn[16].
Đường cơ sở 1982 của Việt Nam
|
Trong việc khuyến nghị, nếu CLCS cần xác định là thềm lục địa của nước ven biển thật sự ra cách đường cơ sở hơn 200 hải lý, hay nếu nước ven biển muốn dùng đường giới hạn 350 hải lý trong việc giới hạn thềm lục địa mở rộng, thì CLCS có thể yêu cầu nước ven biển xác định đường cơ sở của mình[17].
Trên thực tế, đường cơ sở của nước ven biển có thể không phù hợp với UNCLOS và đã bị những nước khác phản đối, thí dụ như đường cơ sở 1982 của Việt Nam và đường cơ sở 1996 của Trung Quốc. Nếu CLCS chấp nhận yêu sách về thềm lục địa mở rộng dựa trên đường giới hạn 350 hải lý tính từ đường cơ sở này thì có thể sẽ không công bằng cho những nước khác.
Ngược lại, CLCS không có thẩm quyền để nghị kiến về đường cơ sở của nước ven biển[18]. Trong trường hợp này, CLCS có thể khuyến nghị nước ven biển về phương pháp tính đường giới hạn 350 hải lý[19], thí dụ như tính đường này từ một đường ad hoc phù hợp với quy định của UNCLOS về đường cơ sở, thay vì tính từ đường cơ sở của nước đó.
Vì vậy, Việt Nam có thể đăng ký yêu sách về thềm lục địa mở rộng mà không cần phải chỉnh sửa lại đường cơ sở 1982. Nếu yêu sách của Việt Nam có dùng đường giới hạn 350 hải lý tính từ đường cơ sở 1982 và nếu CLCS thấy cách tính đường giới hạn này không thích hợp thì họ sẽ khuyến nghị một cách tính khác.
Tranh chấp chủ quyền
Khó khăn lớn cho việc đăng ký thềm lục địa ở Biển Đông là tranh chấp đảo, biển.
CLCS không có thẩm quyền để phân xử tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ được dùng làm cơ sở để đăng ký thềm lục địa mở rộng hay tranh chấp do các vùng biển của các nước khác nhau nằm chồng lấn lên nhau[20]. Trong trường hợp tồn tại tranh chấp, các nước trong tranh chấp có thể tiến hành như sau:
-
Đăng ký toàn bộ thềm lục địa mở rộng[21], nêu rõ những vùng bị tranh chấp.
-
Chỉ đăng ký yêu sách cho phần không bị tranh chấp và sẽ đăng ký yêu sách cho phần bị tranh chấp sau, có thể sau hạn định 10 năm[22].
-
Một số nước trong tranh chấp có thể đăng ký chung phần chỉ có những nước này tranh chấp[23] và những nước này sẽ phân định phần này với nhau sau.
CLCS chỉ xét đăng ký cho vùng bị tranh chấp nếu tất cả những nước trong tranh chấp đồng thuận với việc đó[24].
Trên hai phương diện, có thể có nước cho là tất cả thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông nằm trong tình trạng tranh chấp:
-
Ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc bao trùm hoàn toàn vùng biển cách bờ hơn 200 hải lý. Mặc dù Trung Quốc chưa chính thức tuyên bố ý nghĩa của ranh giới lưỡi bò là gì, họ đã quy định là nếu bản đồ Trung Quốc nào không vẽ ranh giới đó thì bản đồ đó là bất hợp pháp. Trên thực tế, Trung Quốc đã từng tranh chấp các vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính của Việt Nam[25] bên trong ranh giới lưỡi bò đó. Khả năng là Trung Quốc sẽ cho rằng tất cả thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông thuộc về Trung Quốc, và điều đó có nghĩa là tất cả thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông nằm trong tình trạng tranh chấp.
-
Những nước đang tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough có thể có yêu sách là vùng đặc quyền kinh tế thuộc về những đảo này ra tới 200 hải lý, hay ra tới trung tuyến với các nước lân cận. Yêu sách đó sẽ làm cho vùng đặc quyền kinh tế thuộc về những đảo đó nằm chồng lấn lên biển cách bờ hơn 200 hải lý, gây ra tình hình tranh chấp đối với thềm lục địa mở rộng. Trên thực tế, những nước tranh chấp các đảo này chưa chính thức tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế thuộc về các đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough.
Nếu có vùng thềm lục địa mở rộng nào đó bị tranh chấp một cách chính thức, CLCS sẽ không xét đăng ký trừ khi các nước trong tranh chấp đăng ký chung hay đồng ý để cho CLCS xét.
Việc đăng ký với CLCS và khuyến nghị của CLCS không ảnh hưởng tới việc phân định chủ quyền giữa các nước trong tranh chấp[26].
Phải đăng ký trước ngày 13/05/2009
 |
| Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 2: Tất cả thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông, bên ngoài phạm vi 200 HL từ ven biển, có thể nằm trong tình trạng tranh chấp. |
Việt Nam phê chuẩn UNCLOS ngày 25/07/1994 cho nên trên nguyên tắc Việt Nam phải đăng ký yêu sách về thềm lục địa mở rộng với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa trước ngày 13/05/2009. Nếu lỡ thời hạn này, Việt Nam sẽ không có quyền khai thác thềm lục địa mở rộng của mình.
Đối với những vùng thềm lục địa mở rộng trong Biển Đông đã chính thức bị cho là trong tình trạng tranh chấp, Việt Nam có thể đăng ký chung với những nước trong tranh chấp hay đồng ý với những nước này là để cho CLCS xét.
Đối với những tranh chấp chưa được xác định một cách chính thức, thí dụ như tranh chấp do ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc hay do hiệu lực chưa được xác định của các đảo bị tranh chấp, Việt Nam có thể tự đăng ký hay đăng ký chung với những nước trong tranh chấp.
Ngoài ra, Việt Nam có thể yêu cầu CLCS cho phép đăng ký yêu sách của mình trong vùng tranh chấp sau ngày 13/05/2009, và yêu cầu CLCS không xét đăng ký của những nước khác trong tranh chấp trong những vùng này.
Vì việc đăng ký thềm lục địa mở rộng có ảnh hưởng lớn tới quyền lợi quốc gia, nhân dân và Nhà nước Việt Nam cần tạo mọi điều kiện để cơ quan có chức năng hoàn thành nhiệm vụ của mình trong công việc quan trọng này.
Tác giả xin cảm ơn Phạm Thu Xuân, Nguyễn Thái Linh đã góp ý cho bài viết này.
Nguồn: http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6351/index.aspx
| Philippines và 2 dự luật đường cơ sở mới trên Biển Đông |
| 14/02/2009 |
(TuanVietNam) - Hiện nay, Philippines đang bàn thảo 2 dự luật liên quan đến đường cơ sở mới của nước này trên Biển Đông. Việt Nam và các nước ASEAN nên khuyến khích Philippines đi về hướng dự luật nào đảm bảo sự tôn trọng lẽ công bằng và cho sự đoàn kết của ASEAN. Điều này rất cần thiết để đối trọng chủ trương của các nước mạnh ở Biển Đông.
Trong nỗ lực để đăng ký yêu sách về thềm lục địa với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc trước hạn định 13/5/2009, trong những năm qua các chuyên gia, nhà chính trị và dư luận Philippines đã xét 4 đề xuất khác nhau về đường cơ sở mới trên biển cho nước này.
Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS)[1], đường cơ sở là một trong những cơ sở để quy định phạm vi của những vùng biển khác nhau thuộc về một nước. Vì vậy, đường cơ sở của một nước có tầm quan trọng tương đương với biên giới trên bộ của nước đó và có ảnh hưởng tới chủ quyền và quyền lợi của những nước khác.
Vào cuối Tháng Một và đầu Tháng Hai năm nay, Thượng viện và Hạ viện Philippines đã thông qua hai dự luật khác nhau, mỗi dự luật chọn một đường cơ sở khác nhau. Ngày 9/2/2009, trong một buổi họp lưỡng viện để giải quyết vấn đề này, Philippines đã chọn một trong hai đường cơ sở này để làm đường cơ sở mới.
Dự luật Thượng viện SB 2699
Ngày 28/1/2009, Thượng viện Philippines thông qua dự luật SB 2699 về đường cơ sở mới[2] với số phiếu áp đảo 15-0. Theo SB 2699, đường cơ sở của Philippines sẽ không bao quanh Scarborough Shoal, hiện đang là đối tượng tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc, và không bao quanh các đảo Trường Sa của Việt Nam, như trong bản đồ 1.
Ủy ban Ngoại giao và Ủy ban Vụ Biển và Đại Dương Philippines (Commission on Maritime and Ocean Affairs) ủng hộ dự luật này.
|
|
|
Bản đồ 1: Đường cơ sở của Philippines theo dự luật SB 2699 không bao quanh Scarborough Shoal và quần đảo Trường Sa[3]. Đường vạch chấm là vùng đặc quyền kinh tế 200 HL từ đường cơ sở này.
|
Dự luật Hạ viện HB 3216
Sau đó, ngày 2/2/2009, Hạ viện Philippines thông qua dự luật HB 3216, quy định một đường cơ sở khác[4], với số phiếu áp đảo 171-3.
Theo dự luật HB 3216, đường cơ sở của Philippines sẽ bao quanh phần lớn quần đảo Trường Sa của Việt Nam và Scarborough Shoal, như trong bản đồ 2. Ngoài việc vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, chủ trương của dự luật này vi phạm lãnh hải và thềm lục địa của Việt Nam, Malaysia và Brunei và đe dọa quyền lợi trên Biển Đông của tất cả các nước trên thế giới.
 |
| Bản đồ 2: Đường cơ sở của Philippines theo dự luật HB 3216 bao quanh Scarborough Shoal và phần lớn quần đảo Trường Sa[5]. Đường vạch chấm là vùng đặc quyền kinh tế 200 HL từ đường cơ sở này. |
So sánh SB 2699 và HB 3216
Hai dự luật này không khác nhau trong quan điểm về chủ quyền đối với Scarborough Shoal và phần quần đảo Trường Sa mà Philippines yêu sách nhưng khác nhau ở cách dùng các đảo này để đòi hỏi các vùng biển được quy định trong UNCLOS.
HB 3216 dùng những đảo này để vạch đường cơ sở xa bờ một cách tối đa để yêu sách các vùng biển một cách tối đa. Ngược lại, SB 2699 chỉ dùng lãnh thổ chính để vạch đường cơ sở và vì vậy có yêu sách nhỏ hơn đối với các vùng biển. Các điểm khác biệt cơ bản khác của hai dự luật được tóm tắt trong bảng sau:
|
|
HB 3216
|
SB 2699
|
|
Vùng nước quần đảo[6] bên trong đường cơ sở: Theo UNCLOS, Philippines sẽ có gần như toàn quyền trong vùng biển này. Các nước khác chỉ có quyền “đi qua vùng nước quần đảo” và quyền “đi qua không gây hại”.
|
Diện tích 210,443 hải lý vuông[7], gây nhiều trở ngại cho hoạt động trên biển và trên không của tất cả các nước trên thế giới, vi phạm lãnh hải và những vùng biển khác mà Việt Nam có thể đòi hỏi cho quần đảo Trường Sa.
|
Diện tích 171,416 hải lý vuông[8], nằm giữa các vùng lãnh thổ chính của Philippines, không vi phạm chủ quyền và quyền lợi của các nước khác.
|
|
Lãnh hải 12 hải lý từ đường cơ sở và vùng tiếp giáp lãnh hải 12 tới 24 hải lý từ đường cơ sở: Theo UNCLOS, Philippines có gần như toàn quyền đối với vùng lãnh hải. Các nước khác chỉ có quyền “đi qua không gây hại”.
|
Vùng lãnh hải nằm xa ra Biển Đông, gây nhiều trở ngại cho hoạt động trên biển và trên không của tất cả các nước trên thế giới. Ngoài ra, vùng này vi phạm lãnh hải và những vùng biển khác mà Việt Nam có thể đòi hỏi cho quần đảo Trường Sa.
|
Vùng lãnh hải nằm sát bờ lãnh thổ chính của Philippines, không xa ra Biển Đông, không vi phạm chủ quyền và quyền lợi của những nước khác, ngay cả của những nước tranh chấp Trường Sa và Scarborough Shoal.
|
|
Vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ đường cơ sở Philippines có thể đòi hỏi theo UNCLOS.
|
Diện tích 468,250 hải lý vuông[9], nằm xa ra Biển Đông, vi phạm lãnh hải và những vùng biển biển khác mà Việt Nam có thể đòi hỏi cho quần đảo Trường Sa, vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam, Malaysia và Brunei.
|
Diện tích 485,310 hải lý vuông[10], nằm kế cận bờ lãnh thổ chính của Philippines, chồng lấn lên những vùng biển có thể thuộc về Trường Sa nhưng không chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam.
|
Những khuyết điểm của dự luật HB 3216
Thoạt nhìn thì có vẻ là dự luật HB 3216 của Hạ viện đòi hỏi nhiều hơn và có lợi hơn cho Philippines so với dự luật SB 2699 của Thượng viện. Tuy nhiên phân tích trên tinh thần áp dụng các quy tắc của UNCLOS và thực tế ngoại giao cho thấy dự luật này sẽ dẫn tới một số hệ quả rất bất lợi cho Philippines.
Đường cơ sở theo HB 3216 được vạch quanh các đảo đảo đang bị tranh chấp. Những nước trong tranh chấp không thể chấp nhận nhận đường cơ sở này. Các cơ quan của Liên Hợp Quốc sẽ không thể chấp nhận tuyên bố đơng phương của Philippines.
HB 3216 phải dùng những đảo nửa nổi nửa chìm như Sabina Reef hay Iroquois Reef để vạch đường cơ sở, trái với quy tắc của UNCLOS[11]. Để khắc phục điều này, UNCLOS đòi hỏi Philippines phải xây cất hải đăng hay những công trình tương tự trên các đảo này, nhưng như vậy sẽ vi phạm Quy tắc Ứng xử Chung về Biển Đông 2002 giữa các nước ASEAN và Trung Quốc.
Đường cơ sở trong HB 3216 đòi hỏi một vùng nước quần đảo và lãnh hải 12 hải lý nằm xa ra Biển Đông, gây cản trở cho hoạt động trên biển và trên không của các nước khác trên thế giới. Vì vậy, rất có khả năng những nước này sẽ phản đối đường cơ sở trong HB 3216.
Trước thực tế pháp lý và ngoại giao trên, Philippines lại không có sức mạnh và ý chí để áp đặt những đòi hỏi của HB 3216, và cũng khó có thể dùng HB 3216 để làm cơ sở cho đàm phán.
HB 3216 chỉ có thể đem lại cho Philippines một đường cơ sở không được các nước trong khu vực và các nước trên thế giới chấp nhận. Việc đó tương đương với việc Philippines không có biên giới được công nhận, một điều hết sức bất lợi cho nước này. Ví dụ, trong trường hợp có nước khác vi phạm lãnh hải hay vùng nước quần đảo trong HB 3216, các cơ quan chức năng của Philippines phải quyết định có hành xử chủ quyền hay không, và nếu có hành xử thì cũng chỉ được xem là một động thái tranh chấp.
Với kiến thức chuyên sâu và về luật biển và kinh nghiệm thực tế, chắc chắn Uỷ ban Vụ Biển và Đại Dương Philippines thấy được những điều trên, do đó họ đã ủng hộ SB 2699, vì dự luật này đem lại cho Philippines môt đương cơ sở dễ được thế giới chấp nhận hơn.
Trong buổi họp lưỡng viện ngày 9/2/2009, Thượng viện đã thuyết phục được Hạ viện chấp nhận dự luật SB 2699[12].
Ý nghĩa đối với Việt Nam
Như đã trình bày, những yêu sách trong HB 3216 vi phạm chủ quyền của Việt Nam nhiều hơn những yêu sách trong SB 2699. Dù là Philippines không có khả năng để thực hiện những đòi hỏi trong HB 3216, dự luật đó là một bước lùi cho tinh thần tôn trọng UNCLOS, tôn trọng lẽ công bằng và cho sự đoàn kết của ASEAN ở Biển Đông, trong khi những điều đó rất cần thiết để đối trọng chủ trương của của các nước mạnh đối với Biển Đông.
Việc Philippines lựa chọn những nguyên tắc của SB 2699 thay vì HB 3216 là chiều hướng tốt cho Việt Nam, Philippines, các nước ASEAN và cho việc đi tới một quy chế công công bằng ở Biển Đông dựa trên UNCLOS.
Theo ý kiến của các tác giả, Việt Nam có thể chấp nhận SB 2699 với điều kiện là không chấp nhận những tuyên bố của Philippines về chủ quyền đối với Trường Sa và với điều kiện những tranh chấp phát sinh từ dự luật này phải được giải quyết theo UNCLOS và theo lẽ công bằng dựa trên tiền lệ pháp lý và tập quán ngoại giao.
Việc Philippines lựa chọn SB 2699 thay vì HB 3216 cho thấy Việt Nam cũng nên chỉnh sửa lại đường cơ sở 1982 của mình để loại bỏ những khuyết điểm tương tự với những khuyết điểm của đường cơ sở của Philippines trong dự luật HB 3216.
Dương Danh Huy - Lê Trung Tĩnh (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
Các tác giả xin cảm ơn Lê Dương (TTXVN), Hoàng Việt, Lê Minh Phiếu và Phạm Thu Xuân về một số thông tin, tư liệu và thảo luận cho bài này.
Ghi chú:
[1] http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//6032/index.aspx
[2] http://www.gmanews.tv/story/146303/Baselines-bill-pass-Senate-on-3rd-reading
[3] Nguồn bản đồ: http://verafiles.org/images/stories/graphics/map3_cmoa_option.jpg
[4] http://www.bworldonline.com/BW020309/content.php?id=071
[5] Nguồn bản đồ: http://verafiles.org/images/stories/graphics/map2_hb3216.jpg
[6] UNCLOS, Điều 49.
[7] Số liệu của National Mapping and Resource Information Authority Philippines (NAMRIA), lấy từ http://senator.trillanes.org/the-baseline-issue/
[8] NAMRIA, link đã dẫn.
[9] NAMRIA, link đã dẫn.
[10] NAMRIA, link đã dẫn.
[11] UNCLOS, Điều 47.
[12] http://www.manilastandardtoday.com/?page=politics2_feb10_2009
Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6082/index.aspx
| Việt Nam trước chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông |
| 11/01/2009 |
Đã đến lúc chúng ta phải tích cực xây dựng một tư duy Biển Đông. Từ đó, phải có một đội ngũ hùng hậu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến biển, chiến lược biển, xây dựng một ý chí quốc gia, nâng cao ý thức và kiến thức về Biển Đông.
Cùng với những đòi hỏi và những hành động đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc còn thể hiện quyết tâm đòi hỏi phần lớn diện tích Biển Đông. Phần Biển Đông mà họ đòi hỏi nằm trong các đường gạch nối trên Biển Đông, được đưa ra đầu tiên vào năm 1947, có hình chữ U hay hình lưỡi bò và do vậy thường được gọi là “đường lưỡi bò” hay “ranh giới lưỡi bò”. Phần diện tích trong đường lưỡi bò này chiếm khoảng 75% diện tích trên Biển Đông, để lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.
 |
|
Các vạch đỏ là ranh giới lưỡi bò Trung Quốc đòi hỏi. Các đường xanh là một cách chia các vùng đặc quyền kinh tế dựa trên UNCLOS, nhưng không chia các đảo đang bị tranh chấp. Các vòng tròn xanh lá cây là lãnh hải 12 hải lý của các đảo này. (Click vào hình để xem bản đồ cỡ lớn)
|
Năm 1992, Trung Quốc ký hợp đồng thăm dò vùng Tư Chính – Vũng Mây với công ty Crestone. Năm 2007, Trung Quốc đưa ra quy định theo đó tất cả bản đồ Trung Quốc phải vẽ ranh giới lưỡi bò này. Cũng năm 2007, Trung Quốc áp lực tập đoàn dầu khí BP phải ngưng hợp tác với Việt Nam trong hai vùng dầu khí Mộc Tinh, Hải Thạch.
Năm 2008, Trung Quốc vẽ ranh giới lưỡi bò vào bản đồ rước đuốc Olympic và Paralympic, nhưng sau đó gỡ ra khỏi bản đồ rước đuốc Olympic trên trang web chính thức sau khi có tiếng nói phản đối từ phía Việt Nam gửi đến Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc tế. Tháng 7 năm 2008, Trung Quốc áp lực ExxonMobil không được hợp tác với Việt Nam trong vùng biển hợp pháp của Việt Nam. Tháng 11 năm 2008, Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc công bố dự án có vốn 29 tỷ USD để khảo sát và khai thác trên Biển Đông.
Những sự kiện trên cho thấy sự quyết tâm và leo thang của Trung Quốc trong việc thực hiện chủ trương đó.
Trước một chủ trương “không thể chấp nhận được” như vậy, Việt Nam phải đối phó thế nào? Câu trả lời đầu tiên là, mặc dù các biện pháp đối phó hẳn phải khác với trong quá khứ, chúng ta phải đối phó với một sự tích cực không kém tổ tiên chúng ta. Đối phó có thể bao gồm phương cách nhu, nhưng không được nhu nhược.
Tất nhiên, về cơ bản và lâu dài, Việt Nam phải có nền kinh tế và quốc phòng vững mạnh. Việc xây dựng kinh tế và quốc phòng là điều cơ bản nhất để bảo vệ đất nước. Nhưng đây cũng là nhiệm vụ mang tính dài hạn, cốt yếu trong bất kỳ hoản cảnh nào, thời đại nào, không chỉ khi có tranh chấp trên Biển Đông. Vì thế, chúng tôi xin đưa ra một số vấn đề cụ thể khác mà có thể bắt đầu ngay từ bây giờ.
Cần một tư duy Biển Đông
Ở Trung Quốc, sau khi thất trận ở phương Nam dưới thời Lê Lợi, nhà Minh lâm vào khủng hoảng kinh tế. Các Nho thần bảo thủ thời ấy bèn viện dẫn lời đức Thánh Khổng là “cha mẹ còn tại thế mà mình đi xa thì là bất hiếu!” để nói rằng chẳng có lý do gì khiến ta phải giong buồm ra biển. Sau khi Trịnh Hoà qua đời và được thủy táng trong chuyến hải hành thứ bảy, Minh Tuyên Đức ra lệnh cấm đóng tàu viễn dương, không ai được có tàu có quá ba cột buồm. Từ cái lệnh gọi là “hải cấm” ấy, từ giữa thế kỷ 15 trở đi Trung Quốc bế quan tỏa cảng và thu vét phương tiện phòng thủ để chỉ là cường quốc lục địa, không có tư duy hải dương.
Sau khi họ bị các nước khác tấn công từ biển và sau khi bị Nhật thôn tính một số đảo, tư duy hải dương của Trung Quốc đã ra đời. Nhờ có tư duy này, ở Biển Đông, đến nay Trung Quốc đã phát triển rất mạnh về ý thức, đội ngũ nghiên cứu, nhất quán tích cực.
Trong khi đó, cho tới gần đây, nói chung chúng ta vẫn chỉ nhắc tới Hoàng Sa, Trường Sa, mặc dù những đòi hỏi của Trung Quốc trên Biển Đông liên quan đến cả những vùng biển nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa và Trường Sa theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển. Nói cách khác, có nhiều đòi hỏi của Trung Quốc trên Biển Đông không liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa.
Vì thế, chúng ta phải tích cực xây dựng một tư duy Biển Đông. Từ đó, phải có một đội ngũ hùng hậu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến biển, chiến lược biển, xây dựng một ý chí quốc gia, nâng cao ý thức và kiến thức về Biển Đông.
Chiến lược ngoại giao và truyền thông
Là nước nhỏ, trong chiến lược của chúng ta phải tận dụng biện pháp ngoại giao. Tuy không nên tin rằng nếu Trung Quốc tiến chiếm một số đảo của Việt Nam thì sẽ có nước nào đó giúp chúng ta, nhưng phải nhìn nhận là ngoại giao có trọng lượng trên bàn cân “chiếm hay không” của Trung Quốc. Chúng ta phải tăng tối đa trọng lượng này.
Trong chiến lược ngoại giao của ta phải có quyền lợi gì cho các nước khác. Tốt nhất là chiến lược ngoại giao của chúng ta có khía cạnh giúp những nước khác giành cho họ những quyền lợi không phải của ta.
Hơn nữa, việc tuyên truyền và thu hút sự quan tâm trên phương diện quốc tế cũng vô cùng quan trọng cho việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam. Mặc dù có cơ sở rất yếu về phương diện lịch sử và pháp lý đồi với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã và đang tiến hành công cuộc tuyên truyền về chủ quyền của họ đối với quần đảo này.
Dù yêu sách đường lưỡi bò của họ hoàn toàn vô lý, và mặc dù việc Trung Quốc tiến hành thăm dò và khai thác trên khu vực này là “không thể chấp nhận được”, phần lớn các hãng tin quốc tế, khi đưa tin về dự án này, đã không đả động gì tới thực tế là vùng biển này đang bị tranh chấp.
Vì vậy, bằng con đường truyền thông và ngoại giao, cần vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Quốc tế sẽ ủng hộ chúng ta khi thấy công lý và lẽ phải thuộc về chúng ta, cũng như thấy được quyền lợi của họ từ những giải pháp công bằng và hòa bình đó.
Đường lưỡi bò của Trung Quốc xâm phạm đến chủ quyền của các nước khác trong ASEAN. Do vậy, trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam cần phải tận dụng ưu thế thành viên của mình để vận động cho một tiếng nói chung. Ngoài ra, trong việc hội nhập ASEAN cũng như trong việc xây dựng Cộng đồng Kinh tế Đông Á, Việt Nam cần phải giữ thế chủ động.
Phương diện pháp lý
Trong thế giới văn minh hiện nay, pháp luật đã trở thành nền tảng cho ứng xử giữa các quốc gia. Việt Nam, là nước nhỏ, cần phải tận dụng phương tiện và lý luận luật pháp để bảo vệ chủ quyền của mình. Việt Nam cần đào tạo và huy động các chuyên gia luật quan tâm và tham gia vào việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông.
Đi vào một số chi tiết, đối với Hoàng Sa, Trường Sa, những sự kiện lịch sử trước năm 1954 đã xác lâp chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này theo công pháp quốc tế. Theo giáo sư luật quốc tế người Pháp Monique Chemillier-Gendreau, các lập luận của Trung Quốc dựa trên những sự kiện lịch sử trước thế kỷ 20 đều không có giá trị trên diện công pháp quốc tế[1]. Đối với Hoàng Sa, các lập luận của Trung Quốc trước năm 1954 thua kém lập luận của Việt Nam[2]. Đối với Trường Sa, lập luận của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và chỉ biện hộ cho chính sách mở rộng lãnh thổ trên biển[3].
Đối với các vùng biển không thuộc về Hoàng Sa hay Trường Sa, ranh giới lưỡi bò đe doạ chủ quyền của Việt Nam ở ngay cả những vùng biển không liên quan tới những vùng này. Việt Nam cần phải tách vấn đề chủ quyền đối với những vùng biển này ra khỏi tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để:
(1) Trung Quốc không thể dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để nguỵ trang cho ý đồ lưỡi bò của họ;
(2) chúng ta có thể thực thi chủ quyền đối với những vùng biển này trong khi Hoàng Sa, Trường Sa còn bị tranh chấp; và
(3) nếu chủ quyền trên những vùng biển này đã được giải quyết thì sức ép trên chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa sẽ giảm xuống rất nhiều.
Phát huy sức mạnh của toàn dân tộc
Trong hơn 60 năm qua kể từ khi Trung Quốc công bố bản đồ lưỡi bò khoanh 75% Biển Đông một cách mập mờ vào năm 1947 cho tới nay, Việt Nam chưa thực sự phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông. Đây là một thiệt thòi tương tự như việc chiến đấu trong khi một tay bị buộc sau lưng.
Trong hoàn cảnh hiện nay, dân tộc Việt Nam cần phải vượt qua những cách biệt và Nhà nước cần phải tạo điều kiện để phát huy sức mạnh tổng thể của toàn dân trong việc đấu tranh chống lại những hành động “không thể chấp nhận được” từ phía Trung Quốc. Ngày 9/12/2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh tại Hội nghị Quân chính toàn quân: “Phải tiếp tục làm cho toàn quân, toàn dân nhận thức đầy đủ hơn về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN trong điều kiện mới.”[4]
Để có thể phát huy sức mạnh của toàn dân, cần phải có một Quy tắc ứng xử chung về Biển Đông giữa Nhà nước và nhân dân và giữa các cộng đồng người Việt Nam với nhau. Quy tắc này không cần phải là luật, chỉ cần là một thoả thuận bất thành văn, được nhiều cá nhân và hội nhóm công khai tôn trọng.
Nếu không có một quy tắc ứng xử chung về Biển Đông cho dân tộc Việt Nam, dù quy tắc đó chỉ là một sự thông cảm bất thành văn, thì nhân dân và Nhà nước Việt Nam sẽ tiếp tục ứng phó trong tình trạng một tay bị buộc chặt sau lưng, trong khi Trung Quốc càng ngày càng tiến xa, tiến mạnh với yêu sách và hành động để biến 75% Biển Đông thành “biển lịch sử” của họ.
***
Ngày nay, Việt Nam đứng trước một sự đe doạ nguy hại cho tương lai lâu dài của dân tộc. Khác với trong quá khứ, sự đe doạ này tiến triển rất chậm, nhưng càng ngày càng nghiêm trọng, qua nhiều thập niên, có thể nói là cả thế kỷ. Nhiều khi sự đe doạ này rất nhẹ nhàng, dường như không có, nhiều khi có những động thái phi bạo lực, tương đối ít khi tiến tới bằng bạo lực. Nhưng chúng ta đừng để sự nhẹ nhàng, chậm rãi này làm chúng ta coi thường hay thờ ơ. Nếu sự đe doạ này đi tới đích của nó thì hậu quả cho đất nước sẽ vô cùng trầm trọng. Chúng ta phải ứng phó sự đe doạ này với một sự tích cực không kém gì tổ tiên ta đã từng giữ nước.
[2] Monique Chemillier-Gendreau, sách đã dẫn, trang 136.
[3] Monique Chemillier-Gendreau, sách đã dẫn, trang 139.
Nguồn: http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//5831/index.aspx
Chủ quyền VN ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây
| 08/12/2008 |
Bất chấp chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn, được luật quốc tế và các bên liên quan công nhận, Trung Quốc vẫn có yêu sách đối với vùng này. Nhưng, chiếu theo luật quốc tế, những yêu sách này cũng hoàn toàn không có cơ sở.
Năm 1992, Trung Quốc ký hợp đồng thăm dò dầu khí ở vùng Tư Chính – Vũng Mây với công ty Crestone. Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và Mobil ở vùng Thanh Long với lý do vùng này thuộc quần đảo Trường Sa. Năm 2007, Trung Quốc gây áp lực buộc BP ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỷ USD với Việt Nam ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. Các vùng Thanh Long, Mộc Tinh, Hải Thạch nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn.
 |
|
Bản đồ 1: Bản đồ vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn (Nam Con Son Basin). Vùng Thanh Long nằm trong lô 05-1B. Vùng Mộc Tinh nằm trong lô 05-3. Vùng Hải Thạch nằm trong lô 05-2. Vùng Lan Tây, Lan Đỏ nằm trong lô 06-1. Các vùng này nằm ngoài vùng lãnh hải của các đảo Trường Sa. Vạch chấm đen là “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông.
|
Tháng 7 năm nay, Trung Quốc gây áp lực với ExxonMobil yêu cầu không được cộng tác với Việt Nam trong một dự án thăm dò dầu khí ở bồn trũng Nam Côn Sơn.
Ngày 12/11 năm nay, Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc tuyên bố dự án có vốn 29 tỷ USD để khảo sát và khai thác Biển Đông, trong cả những vùng biển hiện đang nằm trong tình trạng tranh chấp.
Thái độ và hành động nói trên của Trung Quốc đã gây thiệt hại cho kinh tế và đe doạ nền độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam. Thế nhưng, những thái độ và hành động đó lại không dựa trên một cơ sở nào của luật biển quốc tế.
Bài viết này sẽ chứng minh sự không có sơ sở đó theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS – United Nations Convention on the Law of the Sea).
Chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam theo luật quốc tế
Trong sự kiện Trung Quốc phản đối và đe dọa BP vào năm 2007 và ExxonMobil vào năm 2008, nhiều người hiểu lầm rằng thái độ và hành động đó của Trung Quốc là sự tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thật ra, theo luật quốc tế, giả sử như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc về Trung Quốc một cách hợp pháp đi nữa, thì vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn nằm ở phía bắc ranh giới với Indonesia vẫn thuộc về Việt Nam.
Nói cách khác, sự xác lập chủ quyền của một nước nào đó trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nếu có, hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến chủ quyền của Việt Nam ở vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn.
Chủ quyền đối với khu vực này, dù cho chủ quyền trên quẩn đảo Hoàng Sa và Trường Sa có là của bất cứ nước nào, cũng thuộc về Việt Nam, chiếu theo các quy tắc của luật biển quốc tế.
Trên thực tế, yêu sách của Trung Quốc đối với vùng này hoàn toàn sai với luật quốc tế. Chính sự hiểu lầm như đã nói trên, dù vô tình hay cố ý, đã che khuất đi phần nào sai trái của Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền đối với vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn.
 |
| Bản đồ 2: Vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam. Các hình tròn đen là lãnh hải 12 hải lý của các đảo trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam. Dựa trên bản đồ của PetroVietnam. |
Theo Điều 57 và 76 của UNCLOS, các quốc gia ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý từ đường cơ sở và một vùng thềm lục địa nếu địa lý đáy biển cho phép thì có thể rộng tối đa là 350 hải lý từ đường cơ sở hay 100 hải lý từ độ sâu 2500 mét.
UNCLOS cũng quy định là nếu có tranh chấp, trong trường hợp vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của hai quốc gia chồng lấn lên nhau, thì tranh chấp phải được giải quyết một cách công bằng (Điều 74 và 83).
Có hai nguyên tắc được dùng để đo lường sự công bằng này trong tập quán luật quốc tế và ngoại giao, đó là đường trung tuyến và tỷ lệ chiều dài bờ biển liên quan. Khi xét xử tranh chấp biển, Toà án Công lý Quốc Tế (International Court of Justice) thường bắt đầu bằng cách vạch đường trung tuyến giữa hai nước làm ranh giới thử nghiệm, sau đó Toà sẽ xét sử công bằng bằng cách xem tỷ lệ diện tích được chia cho mỗi nước có gần như tỷ lệ chiều dài bờ biển liên quan tới tranh chấp hay không.
Trong việc vạch ranh giới, tập quán luật quốc tế và ngoại giao không tính những đảo nhỏ, xa bờ, tự thân không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng, như các đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, để tránh việc những đảo này ảnh hưởng không công bằng tới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nguyên tắc này được Toà án Công lý Quốc Tế tuyên bố từ năm 1969 trong phiên toà chia thềm lục địa Bắc Hải và được khẳng định trong Điều 121, Khoản 3 của UNCLOS. Từ năm 1969 tới nay, Toà án Công lý Quốc Tế luôn luôn tôn trọng nguyên tắc này, thí dụ như trong những phiên toà Lybia/Malta, Vịnh Maine, Guniea/Guniea-Bisseau.
Đối chiếu với những quy tắc pháp lý kể trên với vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn, ta thấy:
Phần lớn vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn phía bắc ranh giới với Indonesia và Malaysia nằm trong phạm vi 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam. Dù Việt Nam vạch đường cơ sở gần bờ thế nào đi nữa thì, theo UNCLOS, những vùng này cũng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam (Xem Bản đồ 2).
Một phần nhỏ của vùng Tư Chính – Vũng Mây và một phần nhỏ của bồn trũng Nam Côn Sơn phía bắc ranh giới với Indonesia, tuy nằm ngoài phạm vi 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam, nhưng nằm trong phạm vi thềm lục địa của Việt Nam. Theo Điều 76 của UNCLOS, thềm lục địa ở những vùng này thuộc về Việt Nam.
Phần lớn những nước tranh chấp Trường Sa và Biển Đông không tranh chấp chủ quyền của Việt Nam ở vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn. Malaysia và Philippines không tranh chấp chủ quyền của Việt Nam ở những vùng này, dù các nước này tranh chấp Trường Sa. Indonesia đã có hiệp định ranh giới với Việt Nam và không tranh chấp những vùng này.
Chỉ có Brunei tranh chấp một phần nhỏ của vùng Tư Chính – Vũng Mây, nhưng cũng không tranh chấp lô 133 và 134. Điều này không chỉ là một sự công nhận về chủ quyền của Việt Nam ở vùng này mà còn cho thấy những nước Đông Nam Á, dù có tranh chấp Trường Sa hay Biển Đông, vẫn tôn trọng UNCLOS và không có đòi hỏi lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Việt Nam.
Tuy Mỹ không có quan điểm Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về nước nào, trong lời tuyên bố về sự hợp tác của Exxon Mobil ở bồn trũng Nam Côn Sơn, đại sứ Mỹ Michael Michalak tuyên bố là việc ExxonMobil cộng tác với Việt Nam trong vùng này là hoàn toàn hợp pháp. Theo báo South China Morning Post, ExxonMobil và các công ty dầu khí quốc tế cho là vùng đang bị Trung Quốc tranh chấp thuộc về Việt Nam.
Trên thực tế, PetroVietnam, BP và ONGC (Ấn Độ) đã hợp tác ở vùng Lan Tây, Lan Đỏ (lô 06-1) từ năm 1992 và hiện đang khai thác dầu khí mà không có nước nào phản đối, kể cả Trung Quốc. PetroVietnam, BP và Conoco cũng đã hợp tác ở vùng Mộc Tinh, Hải Thạch từ năm 1992-1993; cho tới năm 2007 Trung Quốc mới áp lực BP ngưng hợp tác với Việt Nam. Những vùng Mộc Tinh (lô 05-3), Hải Thạch (lô 05-2), Thanh Long (lô 05-1B) gần bờ Việt Nam hơn vùng Lan Tây, Lan Đỏ.
Ngoài ra, nhiều công ty dầu khí quốc tế khác đã hợp tác với Việt Nam từ thập niên 90 trong vùng Nam Côn Sơn, thí dụ như, Idemitsu, Nippon Oil, Teikoku, Conoco Phillips, Vamex, Premier Oil. Vì Việt Nam là nước nhỏ yếu hơn Trung Quốc, việc những công ty này hợp tác với Việt Nam không thể do Việt Nam lấn át Trung Quốc hay những công ty này. Bằng những hợp tác trên, một điều chắc chắc rằng các công ty trên đã công nhận những vùng này thuộc về Việt Nam theo luật quốc tế.
Yêu sách vô lý, không có sơ sở của Trung Quốc
Bất chấp chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn, được luật quốc tế và các bên liên quan công nhận như đã kể trên, Trung Quốc vẫn có yêu sách đối với vùng này.
Nhưng, chiếu theo luật quốc tế, những yêu sách này hoàn toàn không có cơ sở.
Đảo Hải Nam cách vùng này khoảng 1000 hải lý. Vì vùng đặc quyền kinh tế được giới hạn tối đa là 200 hải lý, đảo Hải Nam hoàn toàn không phải là nền tảng theo luật quốc tế để xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối với vùng này.
Quần đảo Hoàng Sa hoàn toàn cũng không phải là cơ sơ để Trung Quốc xác lập chủ quyền đối với khu vực này, vì:
- Quần đảo này hiện là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam;
- Cực nam của quần đảo Hoàng Sa cách vùng này khoảng 750 hải lý. Trong khi đó, vùng đặc quyền kinh tế được giới hạn tối đa là 200 hải lý;
- Tập quán luật quốc tế và ngoại giao không dựa vào những đảo nhỏ như trong quần đảo Hoàng Sa để làm nền tảng cho việc phân chia vùng đặc quyền kinh tế. Sự xác lập hợp pháp chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, giả sử có, cũng không cho Trung Quốc cơ sở pháp lý để tranh chấp vùng này.
Tất cả các đảo trong quần đảo Trường Sa đều có diện tích dưới 0,5 km vuông, tự thân chúng không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng. Theo nguyên tắc và tập quán luật quốc tế đã dẫn, những đảo này không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Những đảo này chỉ được hưởng lãnh hải tối đa là 12 hải lý (Điều 121, khoản 2 và 3 của UNCLOS).
Bản đồ 1 cho thấy lãnh hải 12 hải lý của tất cả các đảo trong quần đảo Trường Sa nằm ngoài vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn. Vì vậy, tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa không cho Trung Quốc cơ sở pháp lý để tranh chấp vùng này. Ngoài ra, Hình 1 cho thấy vùng này nằm trên thềm lục địa Việt Nam, hoàn toàn không liên quan tới thềm lục địa của quần đảo Trường Sa.
Từ những lẽ trên, việc Trung Quốc tranh chấp vùng Tư Chính – Vũng Mây, vùng Thanh Long, Mộc Tinh, Hải Thạch, hay bất cứ vùng nào khác trong bồn trũng Nam Côn Sơn, với Việt Nam là một điều hoàn toàn vô lý và không có cơ sở pháp lý.
***
Tóm lại, việc tranh chấp và những thái độ, hành động của Trung Quốc liên quan đến vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn không có cơ sở pháp lý, ngay cả khi đang tồn tại tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa.
Điều này cũng cho thấy yêu sách của Trung Quốc đòi 75% phần diện tích trên Biển Đông cũng hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và vô lý ngay cả khi đang tồn tại tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhằm bảo toàn tính toàn vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam, không chỉ ở vùng Tư Chính - Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn, mà còn ở tất cả các vùng Biển Đông của Việt Nam, Việt Nam cần phải làm những việc sau:
• Kiên quyết giữ vững chủ quyền và thực thi chủ quyền ở vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn. Việc Trung Quốc thành công trong việc xâm lấn vùng này có nghĩa là những quy tắc pháp lý, những giá trị hành xử được xây dựng ở tầm quốc tế đã bị chà đạp một cách nghiêm trọng và đây sẽ là một tiền lệ nguy hiểm cho tất cả vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam ở Biển Đông.
• Không lẫn lộn, không để cho Trung Quốc viện cớ tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để ngụy trang cho việc chiếm hữu các vùng đó của Việt Nam. Cần hiểu rõ và tuyên bố rõ ràng, dứt khoát với Trung Quốc và với thế giới rằng những vùng này nằm ngoài tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và hoàn toàn thuộc về Việt Nam.
• Cần hiểu rõ và tuyên bố rõ ràng với Trung Quốc và thế giới rằng việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển có diện tích khoảng 75% Biển Đông là hoàn toàn sai trái, vô lý, không có cơ sở pháp lý ngay cả khi đang tồn tại tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa.
 |
| Hình 1: Thềm lục địa vùng Nam Côn Sơn thuộc về thềm lục địa Việt Nam, khác biệt với quần đảo Trường Sa. Nguồn: Marine Ecosystem Dynamics Modeling. |
- Dương Danh Huy - Lê Minh Phiếu
Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5522/index.aspx
|
|
Sóng ngầm dưới mặt Biển Đông
Dương Danh Huy và Lê Minh Phiếu
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - www.seasfoundation.org
|
 |
 |
|
| Một số thử thách đối diện Việt Nam trong đàm phán về Vịnh Bắc Bộ |
Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đang đàm phán phân định chủ quyền đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng.
Tuyên bố chung của Thủ tướng hai nước ngày 25/10/2008 nói, “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này”.
Cuộc đàm phán này đã diễn ra từ vài năm, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt”, lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán” và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung.
Nhưng đến nay phạm vi chính xác của vùng đàm phán hay khảo sát chung, những đòi hỏi và lập luận mà hai bên đưa ra, cũng như những thoả thuận đã đạt được vẫn chưa được công bố.
Cuộc đàm phán này có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam. Kết quả của nó sẽ ảnh hưởng đến ranh giới biển của Việt Nam ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bên ngoài vùng biển này. Đặc biệt, nó có thể ảnh hưởng tới chủ quyền đối với Hoàng Sa.
Nhưng đây là cuộc đàm phán rất phức tạp và Việt Nam phải đối diện rất nhiều thử thách. Trước hết vì nó liên quan đến Hoàng Sa, nhưng những thử thách đó cũng xuất phát từ những khu vực ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.
Yếu tố Hoàng Sa
Trong tầm ảnh hưởng có thể của Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa vào Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế cho Hoàng Sa.
Trên thực tế, năm 1996 Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa, đòi hỏi một vùng nội thuỷ diện tích 17.400 km² bên trong và một vùng lãnh hải 12 hải lý bên ngoài đường cơ sở đó.
Nhưng đường cơ sở này vi phạm UNCLOS. Trung Quốc cũng có thể sẽ đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn những vùng này và lấn sang phía bên Việt Nam của đường trung tuyến.
Nếu Việt Nam chấp nhận những đòi hỏi này thì có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam được hưởng sẽ bị thu hẹp.
Ngược lại, Việt Nam có thể dựa trên chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng biển bên kia đường trung tuyến. Tuy nhiên, Trung Quốc, với lợi thế là nước mạnh và đang chiếm đóng Hoàng Sa (dù sự chiếm đóng đó bất hợp pháp theo luật quốc tế), sẽ khó mà chấp nhận những yêu sách đó của Việt Nam.
Như vậy, Việt Nam khó đạt được công bằng trong đàm phán về vùng biển trong tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa cho đến khi nào vấn đề chủ quyền Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng, ví dụ như thông qua Toà án Công lý Quốc tế.
Bên ngoài Hoàng Sa
Bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Trung Quốc cũng tranh chấp ngay cả những vùng biển rõ ràng thuộc về Việt Nam.
Năm 2004 Trung Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực có toạ độ 17°26'42" Bắc, 108°19'05" Đông, cách Việt Nam 63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý , cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý, tức là ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối với lý do “Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam” .
Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố là khu vực này nằm bên Trung Quốc của vùng biển ngoài của Vịnh Bắc Bộ, do đó Trung Quốc cho rằng sự phản đối của Việt Nam không có cơ sở và không thể chấp nhận được .
Cho tới nay Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc đã công bố một số lô dầu khí lấn sang bên Việt Nam của đường trung tuyến. Trong những lô dầu khí này, vùng LD29-1 nằm hoàn toàn bên Việt Nam và phân nửa vùng LD20-1 nằm bên Việt Nam của đường trung tuyến.
Theo bản đồ năm 2002 của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc thì hai vùng dầu khí này đang được triển khai. Vùng lấn sang bên Việt Nam nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, cách bờ biển đất liền của Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc dưới 75 hải lý, cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa từ 160 hải lý tới 215 hải lý.
Việc Trung Quốc thừa nhận chủ quyền đối với một khu vực dù cách Việt Nam 63 hải lý, cách Trung Quốc 67 hải lý, bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, và đối với những khu vực tương tự, nói lên phần nào thử thách mà Việt Nam phải đối diện trong đàm phán.
Trong vùng biển ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Việt Nam phải vượt qua những thử thách này để đạt được một hiệp định ranh giới biển công bằng. Một hiệp ranh giới biển công bằng rất cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền trước những trường hợp xâm lấn như trên.
Những điều trên cho thấy, đằng sau tuyên bố chung của Việt Nam và Trung Quốc, vẫn tồn tại nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
Hơn lúc nào hết, chúng ta cần quan tâm về cuộc đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những thử thách đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy.
Ý chí, kiến thức của mỗi người sẽ làm nên sức mạnh từ toàn dân và điều này sẽ giúp Việt Nam đối phó với những thử thách nhằm bảo toàn chủ quyền của đất nước mà tiền nhân đã để lại.
Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/11/081117_eastseaargument.shtml
|
Thử tìm giải pháp cho Biển Đông
|
Dương Danh Huy
Gửi tới BBC từ Oxford, Anh Quốc
|
 |
 |
Phương án chia vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (bản đồ 1)
Vùng biển trong các hình tròn 12 hải lý chung quanh mỗi đảo không được chia cho nước nào cho tới khi tranh chấp chủ quyền đảo được giải quyết.
Vùng biển ngoài các hình tròn này được chia theo đường trung tuyến từ bờ biển chính của mỗi nước.
|
Chiến tranh Gruzia là một lời nhắc cho Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia về một số thực trạng của tranh chấp Biển Đông.
Thứ nhất, bạo lực đã từng bùng nổ ra trong quá khứ và có thể sẽ bùng nổ ra trong tương lai.
Thứ nhì, khi bạo lực bùng nổ ra thì nước có sức mạnh quân sự áp đảo sẽ tiến được nhiều bước trong việc thực hiện chủ trương của mình.
Thứ ba, khi bạo lực bùng nổ, sự can thiệp quốc tế sẽ có giới hạn.
Ngoài những thực trạng này, tranh chấp Biển Đông có một thực trạng ít được để ý tới: điều nguy hiểm nhất về tranh chấp Biển Đông không phải là tranh chấp chủ quyền đối với các đảo mà là Trung Quốc yêu sách đòi khoảng 75% toàn diện Biển Đông.
Giải pháp Biển Đông
Với những thực trạng này, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia cần phải đạt được một giải pháp với Trung Quốc cho Biển Đông dựa trên pháp lý, ngoại giao và hiệp định trước khi bạo lực bùng nổ ra.
Để có một giải pháp công bằng, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia phải có lập trường chung và phải ủng hộ lẫn nhau.
Để có lập trường chung, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei phải giới hạn và tạm gác tranh chấp chủ quyền đối với các đảo Trường Sa sang một bên và chú trọng tới các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Vì vậy, chính phủ Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei cần phải tích cực làm việc với nhau để thực hiện và tranh thủ sự hỗ trợ cho một giải pháp dựa trên những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Giới hạn tranh chấp chủ quyền đảo và tầm quan trọng của tranh chấp chủ quyền đảo.
(a) Theo Luật Biển LHQ, những đảo trong quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đảo Pratas và Scarborough Reef nằm dưới mức thuỷ triều cao không được hưởng quy chế lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế ra tới 200 hải lý, hay thềm lục địa ra tới 350 hải lý.
(b) Những đảo trong quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đảo Pratas và Scarborough Reef nằm trên mức thuỷ triều cao chỉ được hưởng quy chế lãnh hải 12 hải lý nhưng không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế ra tới 200 hải lý, hay thềm lục địa ra tới 350 hải lý. Nguyên tắc này dựa trên điều 121.3 của Luật Biển LHQ.
Nguyên tắc này có nghĩa một nước đòi chủ quyền đối với một trong những đảo này chỉ có thể đòi chủ quyền đối với lãnh hải 12 hải lý chung quanh đảo này (các hình tròn 12 hải lý trong bản đồ 1) nhưng không được dùng đảo này để đòi vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa ra xa đảo hơn 12 hải lý.
Nguyên tắc 2: Tạm gác tranh chấp chủ quyền đảo sang một bên.
Điều này có nghĩa tạm gác tranh chấp chủ quyền đối với lãnh hải 12 hải lý chung quanh mỗi đảo (các hình tròn 12 hải lý trong bản đồ 1) sang một bên. Tạm thời không xác định nước nào có chủ quyền đối với lãnh hải 12 hải lý chung quanh mỗi đảo, cho tới bao giờ vấn đề chủ quyền đối với đảo được xác định.
Nguyên tắc này cho phép đi tới một giải pháp cho vùng biển bên ngoài các hình tròn 12 hải lý trong bản đồ, tức là cho phần lớn của Biển Đông, để thực hiện sự công bằng và an ninh cho Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam trong vùng biển rộng lớn này.
Nguyên tắc 3: Chia Biển Đông bên ngoài lãnh hải 12 hải lý chung quanh mỗi đảo (bên ngoài các hình tròn 12 hải lý trong bản đồ 1) cho các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam và Trung Quốc.
(a) Chia vùng biển này thành các vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa cho những nước trên.
(b) Diện tích chia cho mỗi nước có thể được tính theo đường trung tuyến từ bờ biển chính của mỗi nước, không tính Hoàng Sa, Trường Sa, đảo Pratas hay Scarborough Reef, hay theo tỷ lệ chiều dài bờ biển liên quan của mỗi nước, hay theo một kết hợp của hai nguyên tắc này. Đây là hai nguyên tắc thường được Toà Án Quốc Tế dùng để xử tranh chấp biển. Hai nguyên tắc này dẫn tới kết quả gần nhau cho Biển Đông.
(c) Các nước ký hiệp định biên giới cho ranh giới của vùng biển được chia.
Chia ranh giới
Bản đồ 1 minh hoạ chia thềm lục địa cho Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam và Trung Quốc theo đường trung tuyến và cho thấy mỗi nước Philippines, Việt Nam, Trung Quốc sẽ được khoảng ¼ Biển Đông, và Malasia, Brunei, Indonesia sẽ được tổng cộng khoảng ¼ Biển Đông.
So sánh với Trung Quốc yêu sách đòi ¾ Biển Đông, để lại tổng cộng ¼ cho Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam, có thể thấy nguyên tắc trước công bằng và có lợi cho Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam hơn, và những nước này sẽ ủng hộ nguyên tắc đó.
Vì Biển Đông được chia thành các vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa cho nhưng nước trên, Luật Biển LHQ ban cho những nước khác một số quyền hạn đáng kể, so sánh với để cho Trung Quốc chiếm 75% Biển Đông như “biển lịch sử” của họ, và vì vậy những nước khác sẽ ủng hộ nguyên tắc này.
 |
|
| Thềm lục địa Biển Bắc được Toà Án Quốc Tế chia theo đường trung tuyến (Bản đồ 2) |
Nguyên tắc chia biển theo đường trung tuyến thành các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đã được thực hiện ở Biển Bắc như trong bản đồ số 2.
Nếu Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei tạm gác tranh chấp chủ quyền đảo sang một bên, có lập trường chung và ủng hộ lẫn nhau thì có thêm khả năng để đạt được một giải pháp để bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình trên phần lớn Biển Đông. Thêm vào đó, các nước này sẽ có thêm cơ hội được ASEAN và thế giới ủng hộ.
Nếu Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei bị vướng mắc ở tranh chấp chủ quyền các đảo và không thể đi xa hơn thì sẽ kéo dài tình hình “chủ quyền chưa rõ rệt”, “thế giới không ủng hộ nước nào” và “chia để trị” mà Trung Quốc có thể lợi dụng để thực hiên yêu sách chiếm 75% Biển Đông.
Các đề nghị này rất mong nhận được ý kiến đóng góp để cuộc thảo luận thêm có ý nghĩa.
Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/08/080818_georgiaeastsea.shtml
|
|
|
|
replica handbags Carrying replica handbags a leather handbag bally handbags today can simply show off the balenciaga handbags kind of personality thomas wylde a woman has. Miu Miu replica Accessories designer watches like handbags Breguet watches have become more Breitling watches of expression versace handbags of women's personality gianni v...