|
China's U-shaped line in the South China Sea and International Law (Vietnamese) |
|
|
|
|
Written by Le Duc
|
|
Friday, 31 July 2009 00:57 |
Đường "Lưỡi Bò'' trên Biển Đông và Luật quốc tế
Hoàng Việt
(Trình bày tại Tọa Đàm Khoa Học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam, 24-25/7/2009)
I. Đặt vấn đề
Cuộc tranh chấp biển Đông vẫn đang là một
“nguy cơ” gây bất ổn trong khu vực. Tranh chấp biển Đông đã trở thành
một trong những cuộc tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới. Sự
phức tạp của tranh chấp biển Đông đến từ các yêu sách phức tạp về chủ
quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn, vả lại, nó
không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt luật pháp quốc tế về biên giới
biển, lãnh thổ trên biển mà hơn thế nữa nó còn được đan xen với những
lợi ích về địa – chính trị, về kiểm soát con đường vận tải biển chiến
lược, và về khai thác các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ.
Cuộc
va chạm mới đây giữa một chiếc tàu nghiên cứu hải dương của Mỹ với 5
tàu chiến Trung Quốc, sau đó là cuộc khẩu chiến trên các báo của hai
bên, phía Mỹ giải thích vùng biển này là biển quốc tế, tàu Mỹ có quyền
thực hiện các nghiên cứu biển trong vùng đó, còn Trung Quốc khẳng định
đây là vùng biển thuộc chủ quyền của họ. Rồi việc Trung Quốc đã gửi
Công hàm lên Liên Hợp Quốc để phản đối Báo cáo về thềm lục địa của Việt
Nam cùng Malaysia, cũng như Báo cáo của riêng Việt Nam. Rồi việc Trung
Quốc thi hành lệnh cấm đánh bắt cá từ ngày 16/5/2009 bằng cách tăng
cường lực lượng tàu ngư chính xuống biển Đông, đề xuất của Hải quân
Trung Quốc phân chia quyền kiểm soát Thái Bình Dương giữa Trung Quốc và
Mỹ, tới tuyên bố của CNOOC ngày 16/6/2009 sẽ tiến hành khoan sâu thăm
dò khai thác trong Biển Đông trong năm 2009. Vấn đề này lại làm nóng
lên yêu sách của Trung Quốc về các đảo, đá và vùng nước nằm trong
“đường lưỡi bò” gây nhiều tranh cãi.
Thực tế cho thấy tranh chấp
các đảo trong biển Đông đã trở thành một trong những vấn đề an ninh
quan trọng nhất trong khu vực do Trung Quốc yêu sách gần 80% biển Đông
là vùng nước lịch sử của họ sẽ có tác động rất lớn đến việc phân định
các đường biên giới biển của khu vực này trong tương lai, và cũng ảnh
hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cũng như quyền lợi
trên biển của Việt Nam. Do đó, nhu cầu nghiên cứu vấn đề này là một vấn
đề cần thiết.
II. Các yêu sách về “đường lưỡi bò”
Yêu sách về “đường
lưỡi bò” được đưa ra một cách không chính thức từ hai chính quyền: một
là Cộng Hòa Trung Hoa, sau thất bại năm 1949 phải chạy ra Đài Loan (từ
thời điểm này gọi là chính quyền Đài Loan), và từ chính quyền Cộng Hòa
Nhân Dân Trung Hoa được thành lập từ năm 1949 tới nay (gọi tắt là chính
quyền Trung Quốc).
1. Yêu sách về đường lưỡi bò của Cộng Hòa Trung Hoa
 |
| ((Nguồn:http://www.southchinasea.org/maps/Taiwan%27s%20Nine-dash%20Line%20Map%20of%20the%20South%20China%20Sea.jpg) |
Theo
một số học giả cả ở Trung Quốc và ở Đài Loan [1] thì năm 1935, để đối
phó với yêu sách của Pháp đối với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, Cộng
hòa Trung hoa đã cho xuất bản một bản đồ chính thức đầu tiên là
Zhongguo Nanhai gedao yu tu (Bản đồ các đảo trên Nam Hải), bản đồ này
chưa thể hiện “đường lưỡi bò”. Tháng 2 năm 1947, Bộ nội vụ đã tiếp tục
cho xuất bản Bảng tài liệu tra cứu tên cũ của các đảo biển ở biển Đông,
trong đó liệt kê 159 đảo, đá. Sau đó, tháng 1 năm 1948, Bộ Nội Vụ nước
Cộng Hòa Trung Hoa chính thức công bố một bản đồ có tên Nanhai zhudao
weizhi tu (Bản đồ các đảo trên Nam Hải), tháng 2 năm 1948 bản đồ này
được xuất bản chính thức, trên bản đồ này có xuất hiện một đường mà
Trung Hoa gọi là đường hình chữ “U”, một số học giả gọi nó là “đường
lưỡi bò” bởi nó nhìn giống một cái lưỡi bò liếm xuống biển Đông [2],
đường này được thể hiện trên bản đồ lúc này là một đường đứt khúc bao
gồm 11 đoạn. Trong bản đồ đó đường chữ “U” hay “đường lưỡi bò” này được
thể hiện bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên
biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys)
và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung
quốc gọi là Trung Sa).
“Đường lưỡi bò” này xuất phát từ biên
giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ, chạy xuống
phía Nam tương tự như hình dáng của bờ biển Đông và Đông Nam Việt Nam
tới cực Nam của bãi đá san hô Scaborough Shoal (Tăng Mẫu) và sau đó
quay ngược lên phía Bắc theo hướng đi song song với đường bờ biển phía
Tây Sabah của Malaysia và Palawan của Philippines và quần đảo Luzon,
kết thúc tại khoảng giữa eo Bashi nằm giữa Đài Loan và Philippines.
Đường này được vẽ tùy tiện và không có tọa độ xác định chính xác [3].
Năm
1988, sau cuộc đụng độ giữa hải quân của Trung Quốc và Việt Nam, một
nhóm học giả của Đài Loan đã được tập trung lại để nghiên cứu về vấn đề
“vùng nước lịch sử” và bản chất pháp lý của “đường lưỡi bò”.
Một
học giả của Đài Loan là Tống Yến Huy (Yann Huei Song) sau khi tổng kết
các quan điểm của các học giả Đài Loan trong nhóm nghiên cứu cho biết
có hai nhóm ý kiến về vấn đề này [4]: Một nhóm cho rằng vùng nước được
bao bọc trong “đường lưỡi bò” được coi như là “vùng nước lịch sử” của
Cộng Hòa Trung Hoa. Lập luận này được chứng tỏ bởi hai lý do, thứ nhất,
khi bản đồ được xuất bản vào năm 1948, không có sự phản đối cũng như
không có phản ứng nào được đưa ra, thứ hai, việc yêu sách các vùng nước
bị bao bọc như là vùng nước lịch sử đã không vi phạm Điều 4(1) của
UNCLOS (Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982). Nhóm thứ hai
thì chống lại quan điểm này, họ cho rằng yêu sách vùng nước lịch sử của
Cộng Hòa Trung Hoa khó có thể biện minh được: đó là “đường lưỡi bò”
được vạch ra một cách tùy tiện, không thể định vị đường này trên biển
vì thiếu hệ thống tọa độ cũng như khái niệm về vùng nước lịch sử đã trở
nên lỗi thời, khó có thể sử dụng để trợ giúp cho yêu sách của chính
quyền Đài Loan.
Tuy nhiên, cuối cùng Ủy ban nghiên cứu về vấn đề này của Đài Loan đã chấp thuận với quan điểm của nhóm đầu tiên.
2 Yêu sách về đường lưỡi bò của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa
Trung
quốc đưa ra những yêu sách về “đường lưỡi bò” dựa theo quan điểm của
bản đồ xuất hiện đường lưỡi bò đầu tiên của Cộng Hòa Trung Hoa năm 1948.
Năm
1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, quốc gia này sau đó thay
thế Cộng Hòa Trung Hoa trở thành thành viên thường trực của Hội đồng
Bảo An Liên Hợp Quốc. Năm 1949, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng cho ấn
hành một bản đồ, trong đó “đường lưỡi bò” được thể hiện giống như trên
bản đồ trước đó gồm 11 đoạn.
Tuy nhiên, đến năm 1953, bản đồ
vẽ “đường lưỡi bò” của Trung Quốc xuất bản chỉ còn 9 đoạn. Trong suốt
một thời gian dài, mặc dù cho xuất bản bản đồ có thể hiện “đường lưỡi
bò” như trên, nhưng cả Chính phủ Cộng Hòa Trung Hoa lẫn Chính Phủ Cộng
Hòa Nhân Dân Trung Hoa chưa bao giờ đưa ra lời tuyên bố hoặc giải thích
chính thức gì về “đường lưỡi bò” đó cả.
Năm 2003, Li Jin Ming và
Li De Xia của trường đại học Hạ Môn (Trung Quốc) đã công bố một bài
viết đăng trên tạp chí Ocean Development & International Law, tiếp
tục trình bày và làm rõ về lập luận đối với “đường lưỡi bò” này. Hai
học giả này đã tổng kết một số quan điểm của các học giả Trung Quốc,
trong đó hầu hết là khẳng định về chủ quyền của Trung Quốc đối với các
đảo và các vùng nước xung quanh các đảo đó nằm trong “đường lưỡi bò”.
Các học giả Trung Quốc này được hai học giả trích dẫn như Cao Chí Quốc
(Gao Zhiguo), Viện trưởng Viện chiến lược phát triển biển, Cục Hải
dương quốc gia Trung Quốc cho rằng đường này yêu sách sở hữu các đảo
nằm bên trong hơn là một đường biên giới biển. Ông ta nhận xét:. Mặc dù
“Trung Quốc chưa bao giờ yêu sách toàn bộ các cột nước của vùng biển
Đông”, nhưng “tất cả các đảo và vùng nước kế cận trong đường biên giới
này phải thuộc quyền tài phán và kiểm soát của Trung Quốc” [5].
Zou
Keyuan cho rằng yêu sách của Trung Quốc không nên xem như yêu sách vùng
nước lịch sử theo nghĩa truyền thống mà giống như một dạng yêu sách các
quyền chủ quyền và quyền tài phán lịch sử chứ không phải là yêu sách
chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối. Nói cách khác, đây là sự nguỵ biện
liên hệ đường lưỡi bò với các khái niệm quyền chủ quyền và quyền tài
phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển hiện
đại.
Tháng 7 năm 1996, nhà xuất bản Thông tin kinh tế Hồng Kông
cho xuất bản cuốn “The petropolitics of the Nansa islands – China’s
indisputable legal case” của Phan Thạch Anh (Pan Shi Ying) [6], theo
lời của ông ta thì “chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thông qua
việc ấn bản các bản đồ này muốn gửi ba thông điệp tới cộng đồng quốc tế:
1. Khu vực nằm trong đường biên giới này là các đảo, đá và các vùng nước kế cận của chúng đã thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trong lịch sử.
2. Phù hợp với các công ước quốc tế,
vị trí và hướng đi của con đường đứt khúc 11 đoạn này (sau thay bằng 9
đoạn) đã được vạch ra theo cách gần như là đường cách đều giữa rìa
ngoài của bốn quần đảo trong biển Nam Trung Hoa và đường bờ biển của
các quốc gia kế cận. Điều này đã và đang là hợp pháp vào thời gian đó
của chiếm cứ, chiếm hữu và quản lý.
3. Thực tiễn sử dụng các đường đứt khúc
hơn là một đường liên tục để đánh dấu một số các khu vực chủ chốt đã
chỉ ra thực chất của việc “chưa dứt điểm” để lại những khả năng đưa ra
những điều chỉnh cần thiết trong tương lai.
Nói cách khác vùng
nước do con đường này bao bọc là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy
của Trung Quốc. Con đường này chỉ là hình thức, còn danh nghĩa lịch sử
của Trung Quốc trên vùng biển này mới là nội dung.
Như vậy, lập
luận về chủ quyền đối với các đảo, đá, bãi nằm trong “đường lưỡi bò”
cũng như bản chất pháp lý của “đường lưỡi bò” của Cộng Hòa Nhân dân
Trung Hoa đều bắt nguồn từ bản đồ đầu tiên thể hiện đường này của Cộng
Hòa Trung Hoa trước đó, tuy nhiên quan điểm của họ về tính chất pháp lý
của “đường lưỡi bò” này như thế nào lại có nhiều quan điểm khác biệt.
III. Phân tích các yêu sách về “đường lưỡi bò”theo luật quốc tế
 |
| Nguồn: http://www.southchinasea.org/9-dotted%20map/map_small.gif |
1. Yêu sách của Cộng hòa Trung Hoa
Khái
niệm “vịnh lịch sử” hay “vùng nước lịch sử” mà ở đó một quốc gia thực
hiện quyền lực thuộc chủ quyền của mình đã được luật pháp quốc tế chấp
nhận trong một số hoàn cảnh hạn chế. Điều 10 (6) của UNCLOS thừa nhận
sự tồn tại của một vùng nước như vậy, và một số các vịnh biển mà không
đáp ứng được các tiêu chuẩn chính thức của một “vịnh” theo Điều 10 đã
được trao cho quy chế này theo thời gian. Tuy vậy, các cường quốc trên
biển, đặc biệt là Mỹ, đã nỗ lực giữ cho khái niệm này không được chấp
nhận rộng rãi nhằm duy trì sự tự do hàng hải.
Khái niệm về yêu
sách lịch sử được chấp nhận vào năm 1951 bởi Tòa án quốc tế (ICJ) khi
phán xét về yêu sách của Na uy về vùng nước nằm tiếp liền bờ biển của
nước này. Những yêu sách về chủ quyền lịch sử cũng được chấp nhận trong
những hoàn cảnh thích hợp tại Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp
giáp lãnh hải. Gần đây, trong vụ án Vịnh Fonseca, Tòa án quốc tế đã
chấp nhận vịnh Fonseca là một vịnh lịch sử và vùng nước của nó là vùng
nước lịch sử.
Năm 1962, Ủy ban pháp luật quốc tế đã thực hiện
một nghiên cứu với tựa đề: “Quy chế pháp lý của vùng nước lịch sử, bao
gồm cả vịnh lịch sử”, trong nghiên cứu này đã có những câu trả lời cho
câu hỏi những tiêu chuẩn nào sẽ được áp dụng để xác định tính hợp pháp
của một yêu sách chủ quyền lịch sử.
Theo đó thì một vịnh hay một
vùng nước được coi là lịch sử, căn cứ theo tập quán quốc tế và các phán
quyết của tòa án phải thỏa mãn ít nhất hai điều kiện sau: 1) Quốc gia
ven biển thực thi chủ quyền của mình đối với vùng được yêu sách; 2) Sự
liên tục của việc thực thi quyền lực đó theo thời gian; 3) Quan điểm
của các quốc gia khác với yêu sách đó. Ngoài ra, một quốc gia yêu sách
danh nghĩa lịch sử phải có trách nhiệm đưa ra bằng chứng đối với các
vùng nước có vấn đề đang tranh cãi này [7].
Bất cứ chính quyền
nào yêu sách vùng nước nằm trong “đường lưỡi bò” là vùng nước lịch sử
thì quy chế pháp lý đối với vùng nước này như thế nào, nếu các vùng
nước này được yêu sách như vùng nội thủy thì các chính quyền yêu sách
đó phải chứng minh được là họ đã thực thi chủ quyền một cách liên tục
đối với các vùng nước bao bọc trong “đường lưỡi bò” qua một thời gian
tương đối giống như đã thực thi chủ quyền đối với các vùng nội thủy
khác. Nếu các vùng nước này được yêu sách như lãnh hải thì quốc gia yêu
sách phải chỉ ra được rằng họ đã thực thi chủ quyền một cách liên tục
đối với các vùng nước bị bao bọc này trong một thời gian dài như họ đã
thực thi chủ quyền đối với các vùng lãnh hải khác. Cũng tương tự như
vậy nếu họ muốn yêu sách các vùng nước bị bao bọc như là vùng nước lịch
sử.
Đối với yêu sách như các vùng nội thủy
Theo
chế độ pháp lý của các vùng nội thủy, một quốc gia ven biển thực thi
chủ quyền đầy đủ đối với vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở để
tính chiều rộng lãnh hải, tàu nước ngoài không có quyền đi qua không
gây hại trong vùng nội thủy của quốc gia ven biển, trừ khi được sự đồng
ý của quốc gia đó.
Vậy vùng nước bị bao bọc bởi “đường lưỡi
bò”có thể được coi là vùng nội thủy không? Câu trả lời đến ngay từ một
học giả Đài Loan là không [8], bởi những lý do sau đây: thứ nhất, chính
quyền Cộng hòa Trung Hoa chưa bao giờ yêu sách vùng nước bên trong
“đường lưỡi bò” như là vùng nội thủy. Thứ hai, tàu nước ngoài, trong đó
có cả tàu chiến vẫn thực hiện quyền đi lại trên vùng nước nằm trong
“đường lưỡi bò” này từ khi “đường lưỡi bò” này xuất hiện trên bản đồ do
Cộng Hòa Trung Hoa xuất bản năm 1948, và chính quyền Cộng Hòa Trung Hoa
đã không có một hành động nào ngăn cản các tàu nước ngoài qua lại vùng
này.
Đối với yêu sách như “lãnh hải”.
Theo
quy định tại Điều 3 Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982
(UNCLOS) thì: “Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải
của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở
được vạch ra theo đúng Công ước”. Mọi quốc gia có quyền thực thi chủ
quyền đối với vùng lãnh hải của mình. Tàu thuyền nước ngoài chỉ được
hưởng quyền đi qua không gây hại cho trong vùng lãnh hải của các quốc
gia ven biển, trừ khi có các điều khoản, điều ước chuyên môn khác. Đối
với vùng trời phía trên lãnh hải, các máy bay nước ngoài được quyền bay
qua không gây hại.
Vậy thì câu hỏi tiếp theo là các vùng nước
bên trong “đường lưỡi bò” có thể được coi là lãnh hải của Trung Quốc
không? Câu trả lời của Yann Huei Song cũng là không. Máy bay nước ngoài
đã bay qua vùng trời phía trên của vùng nước này từ năm 1948 khi bản đồ
được xuất bản. Như đã trình bày ở trên, máy bay của nước ngoài không
được phép bay qua không gây hại trên vùng trời phía trên của lãnh hải
quốc gia ven biển.
Đối với yêu sách như các vùng nước quần đảo.
Khái
niệm về các vùng nước quần đảo là một khái niệm mới trong luật biển
quốc tế, được đưa ra trong Hội nghị Liên Hợp Quốc về Luật biển lần III
(UNCLOS III), theo đó, các vùng nước nằm bên trong đường cơ sở thẳng
của quần đảo là vùng nước quần đảo, nó không phải là nội thủy, cũng
không phải là lãnh hải. Một quốc gia quần đảo có quyền thực thi chủ
quyền đối với vùng nước quần đảo của mình. Chủ quyền quốc gia “được mở
rộng đến vùng trời phía trên của vùng nước quần đảo cũng như đến đáy
của vùng nước đó và lòng đất tương ứng và đến các nguồn tài nguyên ở
đó”. Tàu nước ngoài được quyền đi qua không gây hại tại vùng nước quần
đảo, tàu biển và máy bay nước ngoài được quyền có đường hàng hải, đường
hàng không đi qua vùng nước quần đảo.
Do chế độ pháp lý của “các
vùng nước quần đảo” được phát triển trong giai đoạn hội nghị lần thứ
III của UNCLOS (từ năm 1973 – 1982) và bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò”
xuất bản lần đầu năm 1948, nên khó có thể chứng minh được vùng nước bên
trong “đường lưỡi bò” đó có được quy chế pháp lý của các vùng nước quần
đảo, Cộng Hòa Trung Hoa đã không thực thi chủ quyền và quyền tài phán
của mình đối toàn bộ các vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” này, tàu
và máy bay nước ngoài vẫn tiếp tục được hưởng quyền tự do hàng hải và
hàng không trong vùng nước nằm trong đường này, thay cho quyền đi qua
không gây hại và quyền được qua lại các tuyến hàng hải và hàng không đã
được ấn định của vùng nước quần đảo. Vì thế, có thể kết luận là toàn bộ
các vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” không thể được xem là các vùng
nước quần đảo của Cộng hòa Trung Hoa.
2. Yêu sách của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Với
công hàm ngày 7/5/2009 có kèm bản đồ đường chữ U, có vẻ như Trung Quốc
đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận “tính chất lịch sử của đường
lưỡi bò, coi Biển Đông như một vịnh lịch sử”. Đường này sẽ được ngộ
nhận là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung Quốc. Họ cũng rất
khéo kết hợp con đường này với các khái niệm đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố dưới dạng Trung
Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận của
quần đảo Nam Sa (Trường Sa theo tên Việt Nam). Như vậy toàn bộ Biển
Đông sẽ trở thành ao hồ của Trung Quốc.
Theo các tiêu chí để
thỏa mãn một vùng nước được coi là vùng nước lịch sử, thì Trung Quốc
cũng phải chứng minh được họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng
nước trong đường lưỡi bò này một cách thật sự và liên tục trong một
thời gian dài. Điều này thật không đơn giản, bởi vì: Các văn kiện chính
thức của nhà nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên nhất thống
chí (1294), Đại Minh Nhất thống chí (1461), Đại Thanh Nhất thống chí
(1842), trước năm 1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc
là Nhai huyện, đảo Hải Nam” . Các bản đồ lãnh thổ Trung Quốc của
người nước ngoài cùng thời cũng vẽ và giải thích phù hợp với cách hiểu
này của người Trung Quốc. Bản đồ Trung Quốc thế kỷ XVII của Peter de
Goyer và Jacob de Keyzer thuộc công ty Đông ấn - Hà Lan cũng có lời
giải thích rất rõ: “nơi xa nhất của Trung Quốc bắt đầu từ phía Nam đảo Hải Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó ngược lên phía Bắc đến vĩ độ 42 độ
[9]. Trung Quốc chỉ thực sự bước chân lên quần đảo Hoàng Sa năm 1909
khi quần đảo này đã thuộc Việt Nam, không còn là đất vô chủ. Về Trường
Sa, cho tới tận năm 1932, công hàm ngày 29/9/1932 của Phái đoàn ngoại
giao Trung Hoa Dân quốc tại Paris vẫn còn khẳng định các nhóm đảo
“Amphitrite” (Lưỡi Liềm) và “Croissant” (An Vĩnh) của quần đảo Tây Sa
(Hoàng Sa) “tạo thành phần lãnh thổ Trung Quốc nằm tận cùng ở phía Nam” .
-
Trung Quốc đã không đưa ra được các bằng chứng nào có sức thuyết phục
về việc họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng biển rộng lớn này
một cách liên tục, hòa bình từ thời xa xưa. Các sách Hán văn cổ đều ghi
nhận các hoạt động của dân đánh cá và dân buôn ả Rập, ấn Độ, Malay,
Việt, và vùng Vịnh trong vùng biển này, không có một bằng chứng nào cho
thấy Biển Đông hoàn toàn là “ao hồ Trung Quốc”. Các chính quyền phong
kiến Trung Quốc cũng không thiết lập hoặc duy trì có lợi cho họ một sự
độc tôn nào trong vùng biển này, khả dĩ có thể loại bỏ hoạt động khai
thác của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải của triều Nguyễn. Ngược lại còn có
những hành động thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động đó như trường
hợp năm 1774: quan huyện Văn Xương giúp đội viên đội Hoàng Sa khi đi
làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Quốc.
Đường lưỡi bò không
phải là con đường có tính ổn định và xác định. Từ 11 đoạn, năm 1953,
Trung Quốc đã phải bỏ đi hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ vì quá vô lý. Tính
chất không liên tục của con đường này được các tác giả Trung Quốc giải
thích là để cho “những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”. Đặc tính
quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là sự ổn định và dứt
khoát [10]. “Đường lưỡi bò” không thể hiện được đặc tính đó, thêm nữa,
vị trí của nó lại không được xác định tọa độ rõ ràng, vì thế khó mà
biểu thị là một đường biên giới được.
Vấn đề thứ hai theo Yann
Huei Song thì mặc dù “đường lưỡi bò” đã xuất hiện trên các bản đồ xuất
bản ở Trung Hoa lục địa từ năm 1949, nhưng chưa bao giờ Cộng Hòa Nhân
Dân Trung Hoa yêu sách chính thức các vùng nước nằm trong đường này như
các vùng nước lịch sử. Đại diện của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã
không tuyên bố như vậy trong Hội nghị Công ước Luật biển lần III [11].
Theo luật pháp quốc tế, các hành vi mà quốc gia thể hiện phải mang tính
công khai ý chí thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó. Những hành vi bí
mật không thể tạo nên cơ sở cho quyền lịch sử, ít nhất các quốc gia
khác phải có cơ hội được biết những gì đang diễn ra.
Như vậy, kể
cả Cộng Hòa Trung Hoa lẫn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đều chưa bao giờ
công bố chính thức yêu sách về vùng biển bên trong “đường lưỡi bò” đó.
Đặc biệt, Điều 1 Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã nhấn mạnh rằng:
“Chiều
rộng lãnh hải nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều khoản
này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung
Hoa, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như
các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Penghu (Bành Hồ) và tất cả
các đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven
bờ biển của nó bởi biển cả” [12].
Như vậy, Tuyên bố 1958 của
Trung Quốc xác định rõ ràng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển
cả, chứ không phải là vùng nước lịch sử. Chẳng lẽ lại tồn tại vùng biển
cả nằm trong nội thủy của Trung Quốc? Không thể có điều vô lý đó. Do
vậy, Tuyên bố và các đạo luật của các nhà chức trách Trung Quốc, đặc
biệt Tuyên bố năm 1958 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là không phù hợp
với yêu sách lịch sử được phân định bởi “đường lưỡi bò” [13].
Tuyên
bố về đường cơ sở của Trung Quốc ngày 15/5/1996 càng làm cho sự mập mờ
này của họ tăng lên bởi họ yêu sách một đường cơ sở nối cả Hoàng Sa
nhưng lại không đề cập gì đến Trường Sa.
Hơn nữa, tại hội nghị
San Francisco tháng 9 năm 1951, các quốc gia tham gia đã khước từ đề
nghị trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [14],
và thực tế tranh chấp về chủ quyền trên Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung
Quốc hay tranh chấp chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần quần đảo
Trường Sa giữa Việt Nam, Malaysia, Philippines và Trung Quốc cho thấy
không thể nói là “đường lưỡi bò” được các quốc gia khác công nhận. Như
vậy, có thể nói là yêu sách này chưa bao giờ có được sự thừa nhận của
cộng đồng quốc tế.
KẾT LUẬN
Yêu sách về “đường
lưỡi bò” bắt đầu từ một bản đồ của Cộng Hòa Trung Hoa xuất bản lần đầu
tiên vào năm 1948. Sau này, cả Đài Loan và Bắc Kinh đều đã dựa vào bản
đồ đó để biện minh cho yêu sách về vùng biển này trên biển Đông.
Bản
chất thực sự của yêu sách này vẫn đang bị bao phủ bởi sự bí ẩn, cả
Trung Quốc và Đài Loan đều mập mờ với các tuyên bố không rõ ràng. Tuy
nhiên, những hoạt động của Trung Quốc cho thấy Trung Quốc thực tế đang
yêu sách tất cả các vùng nước và tài nguyên nằm trong vùng biển này.
Những
phân tích về yêu sách này theo luật pháp quốc tế cho thấy vì cơ sở pháp
lý thiếu thuyết phục cho nên “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không đưa ra
những yêu sách lịch sử của mình với các tọa độ rõ ràng, và giữ im lặng
về bản chất của đường lưỡi bò và chế độ pháp lý của vùng biển được bao
bọc bởi đường đó” [15]. Ngay cả các học giả Trung Quốc cũng không nhất
trí được với nhau về chế độ pháp lý của vùng biển bị bao bọc bởi đường
lưỡi bò này [16].
Các học giả Trung Quốc đã nỗ lực tìm mọi
luận cứ biện minh cho yêu sách này của họ, còn các học giả nước ngoài
thì đưa lại những ý kiến khách quan hơn. Nhóm Mark J Valencia cho rằng:
“ một yêu sách của Trung Quốc coi biển Nam Trung Hoa là một vùng nước
lịch sử không thể đứng vững được dưới góc độ pháp luật quốc tế hiện
đại” [17].
Xa hơn nữa, Hamzah cho rằng: “ Một số nước yêu sách
toàn bộ biển Nam Trung Hoa như là của riêng họ dựa trên cơ sở lịch sử.
Các yêu sách như vậy chẳng có gì là lạ và chẳng đáng đề cập đến… Yêu
sách đơn phương đối với toàn bộ biển Nam Trung Hoa của một quốc gia sẽ
chẳng có gì chú ý đến.. Dù suy diễn như thế nào chăng nữa cũng không
thể coi biển Nam Trung Hoa như là vùng nội thủy hoặc hồ lịch sử để làm
cơ sở khẳng định yêu sách. Vì vậy, khu vực yêu sách này là phù phiếm,
không có căn cứ và không hợp lý…Tôi cố gắng thuyết phục tất cả các quốc
gia bác bỏ các yêu sách đối với toàn bộ biển Nam Trung Hoa (hay đòi hỏi
một khu vực có liên quan) vì không có cơ sở nào trong luật cũng như
trong lịch sử” [18].
Dựa trên pháp luật quốc tế hiện đại,
chúng ta có thể kết luận về yêu sách về “đường lưỡi bò”này của Trung
quốc “không có cơ sở yêu sách nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch
sử đó [19] ”, “yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử và quyền
đối với hầu hết biển Đông và/hoặc đối với đáy biển và lòng đất của nó
là trái với sự phát triển toàn diện của luật biển quốc tế hiện đại và
không thể coi là một vấn đề pháp luật nghiêm chỉnh” [20].
Chú thích:
[1] Xem Li Jin Ming và Li De Xia, The Dotted Line on the Chinese Map
of
the South China Sea: A Note, Ocean Development & International Law,
34:287–295, 2003, p 289; Yann Huei Song, china's "historic waters"in
the south china sea:an analysis from taiwan, American Asian Review Vol.
12, N.. 4, Winter, 1994 (pp. 83-101)
[2] Chi Kin Lo, China’s policy towards territorial disputes, p 43.
[3] Yann Huei Song, đã dẫn, xem chú thích 1
[4] Yann Huei Song, đã dẫn
[5] Xem Li Jin Ming và Li De Xia, đã dẫn
[6]
Xem Pan Shiying: The petropolotics of the Nansha islands – China’s
indisputable legal case (Chính trị dầu mỏ của các đảo Nam Sa – lập luận
pháp lý không thể tranh cãi của Trung Quốc), Economic Information &
Agency, July 1996)
[7] Mark Valencia, Sharing the resources of the South China sea, Martinus Nijhoff publisher, 1997, p 26
[8] Yann Huei Song, đã dẫn, xem chú thích 1
[9]
Peter de Goyer and Jacob de Keyzer: An Embassy from the East – India
company united Provinces to the Grand Tartar Cham Emperor of China…,
thư viện Menzies, Australia, v. Ige. Rare b DS 708.N64
[9] G.M.C
Valero: Spratly archipelago: is the question of sovereignty still
relevant?, IILS, University of the Philippines, Law Center, Diliman,
Quezon city, 1993.
[10] Tuyển tập các phán quyết, sắc lệnh của Tòa
án công lý quốc tế (ICJ), 1962, vụ đền Preáh Viheár,Tài liệu dịch của
Ban Biên giới chính phủ, tr. 34
[11] Yann huei Song, đã dẫn
[12]
Daniel J. Dzurek, The Spratly Islands Dispute:Who's On First?
International Boundaries Research Unit, Volume 2 Number 1, p. 14
[13] Daniel J. Dzurek, đã dẫn, p. 15
[14] Monique Chemillier- Gendreau, Sovereignty over Paracel and Spratly Islands, Kluwer Law International, 2000, 208, p. 41
[15] Yann Huei Song, đã dẫn
[16] Daniel Dzurek, đã dẫn, p. 13
[17]
Mark J. Valencia, John M. Van Dyke, and Noel A. Ludwig, Sharing the
resouces of the South China Sea, University of Hawaii’s Press, 1997,
278, p. 28
[18] Yann Huei Song, đã dẫn
[19] Yann Huei Song, đã dẫn
[20]
Brice M. Claget, Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở
khu vực bãi ngầm Tư Chínhh và Thanh Long trong biển Đông, nxb Chính trị
Quốc gia, Hà nội, 1996, tr. 99
|
|
|
Latest Comments
Most Commented
|
298274818336917502974 when I want to buy brand handbags for my family new style coach handbagsThis spring, there are all leather replica dolce & gabbana handbagsI receive it very soon and so high quality discount christain dior handbagsWhat are they made from? dg wholesale handbagit with detachable straps can double as clutches for the evening wholesale burberry bagsand finally find out a beautiful website dolce & gabbana brand handbagThe machine apply for leather bags or instep folding turn edging. gucci wholesale bagWe offer replica products such as them, [url=ht...